- Aṅguttara Nikāya 4.45
- 5. Rohitassavagga
Bản dịch
AN 4.45 — Rohitassa (1)
Rohitassasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thiên tử Rohitassa sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chiếu sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, thiên tử Rohitassa bạch Thế Tôn:
—Tại chỗ nào, bạch Thế Tôn, không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), chúng con có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?
—Này Hiền giả, tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), Ta tuyên bố rằng không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới.
TTC 2—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn; thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn; thật là khéo nói, bạch Thế Tôn, lời nói này của Thế Tôn: “Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), Ta tuyên bố rằng không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới”. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, con là vị ẩn sĩ tên là Rohitassa, con của Bhoja, có thần thông, đi được trên hư không. Tốc độ của con là như thế này, bạch Thế Tôn; ví dụ như một người bắn cung kiên cường, có huấn luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ có thể dễ dàng bắn xuyên qua bóng một cây ta-la. Bước chân của con là như vậy, như từ khoảng cách từ biển Ðông qua biển Tây. Với con, bạch Thế Tôn, thành tựu được với tốc độ như vậy, với bước chân như vậy, con khởi lên ý muốn như sau: “Với bước chân đi, ta sẽ đạt đến chỗ tận cùng của thế giới”. Bạch Thế Tôn, trừ khi ăn uống nhai nếm, trừ khi đi đại tiện, tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức, dầu thọ đến 100 tuổi, dầu đã sống một trăm tuổi, dầu đi đến 100 năm, cũng không có thể đạt được tận cùng của thế giới, nhưng giữa đường con đã chết. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn; thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn; thật là khéo nói, bạch Thế Tôn, lời nói này của Thế Tôn: “Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), Ta tuyên bố rằng không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới”.
TTC 3—Này Hiền giả, Ta tuyên bố rằng: “Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới”. Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt.
Với đi, không bao giờ,
Ðạt tận cùng thế giới.
Nếu không, không đạt được,
Chỗ tận cùng thế giới,
Thời không có giải thoát,
Ra khỏi ngoài khổ đau.
Do vậy, bậc có trí,
Hiểu biết rõ thế giới,
Ði tận cùng thế giới,
Với Phạm hạnh thành tựu,
Bậc đạt được an tịnh,
Biết tận cùng thế giới,
Không mong cầu đời này,
Không mong cầu đời sau.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.45
- 5. With Rohitassa
With Rohitassa
5. Kinh Rohitassa
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho rohitasso devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rohitasso devaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“Yattha nu kho, bhante, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, sakkā nu kho so, bhante, gamanena lokassa anto ñātuṁ vā daṭṭhuṁ vā pāpuṇituṁ vā”ti?
“Yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then, late at night, the glorious godling Rohitassa, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:
“Sir, is it possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn?”
“Reverend, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn.”
“It’s incredible, sir, it’s amazing,
48. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Visākha Pañcālaputta ở trong giảng đường, dùng pháp thoại chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ khưu, với lời lẽ tao nhã, trong sáng, không ngập ngừng, làm cho hiểu rõ ý nghĩa, bao trùm (Niết-bàn), không nương tựa (vào sanh hữu). Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống xong, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu:
Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Lời này đã được Thế Tôn khéo nói biết bao, bạch Thế Tôn: ‘Này Hiền giả, nơi nào không có sanh, không có già, không có chết, không có hoại, không có khởi, Ta không nói rằng có thể biết, thấy, hay đạt đến tận cùng của thế gian bằng cách đi.’
“Bhūtapubbāhaṁ, bhante, rohitasso nāma isi ahosiṁ bhojaputto iddhimā vehāsaṅgamo. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpo javo ahosi, seyyathāpi nāma daḷhadhammā dhanuggaho sikkhito katahattho katūpāsano lahukena asanena appakasirena tiriyaṁ tālacchāyaṁ atipāteyya. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpo padavītihāro ahosi, seyyathāpi nāma puratthimā samuddā pacchimo samuddo. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpena javena samannāgatassa evarūpena ca padavītihārena evarūpaṁ icchāgataṁ uppajji: ‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti. So kho ahaṁ, bhante, aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarāyeva kālaṅkato.
Once upon a time, I was a seer named Rohitassa, son of the benefactors. I was a sky-walker with psychic powers. I was as fast as a light arrow easily shot across the shadow of a palm tree by a well-trained expert archer with a strong bow. My stride was such that it could span from the eastern ocean to the western ocean. Having such speed and stride, this wish came to me: ‘I will reach the end of the world by traveling.’ I traveled for my whole lifespan of a hundred years—pausing only to eat and drink, go to the toilet, and sleep to dispel weariness—and I passed away along the way, never reaching the end of the world.
Bạch Thế Tôn, trong một tiền kiếp, con là một vị ẩn sĩ tên là Rohitassa, con của một vị vua Bhoja, có thần thông, đi được trên hư không. Bạch Thế Tôn, tốc độ của con lúc ấy như thế này: ví như một cung thủ có sức mạnh, được huấn luyện, tay nghề khéo léo, đã thực hành, có thể bắn một mũi tên nhẹ không khó khăn gì xuyên qua bóng của một cây cọ. Bạch Thế Tôn, bước chân của con lúc ấy như thế này: ví như khoảng cách từ biển đông đến biển tây. Bạch Thế Tôn, với tốc độ như vậy và với bước chân như vậy, con đã khởi lên ước muốn rằng: ‘Ta sẽ đi đến tận cùng của thế gian bằng cách đi.’ Bạch Thế Tôn, con, với tuổi thọ một trăm năm, sống một trăm năm, ngoại trừ việc ăn, uống, nhai, nếm, ngoại trừ việc đại tiện, tiểu tiện, ngoại trừ việc ngủ và xua tan mệt mỏi, đã đi suốt một trăm năm, nhưng chưa đến được tận cùng của thế gian mà đã chết giữa đường.
Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāva subhāsitamidaṁ, bhante, bhagavatā: ‘yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmī’”ti.
“‘Yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyan’ti vadāmi.
It’s incredible, sir, it’s amazing, how well said this was by the Buddha.”
“Reverend, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn.
Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Lời này đã được Thế Tôn khéo nói biết bao, bạch Thế Tôn: ‘Này Hiền giả, nơi nào không có sanh, không có già, không có chết, không có hoại, không có khởi, Ta không nói rằng có thể biết, thấy, hay đạt đến tận cùng của thế gian bằng cách đi.’
“Này hiền hữu, nơi nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không tái sanh, Ta không tuyên bố rằng nơi tận cùng của thế gian ấy có thể được biết, được thấy, được đạt đến bằng cách đi. Và này hiền hữu, Ta cũng không tuyên bố rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế gian. Nhưng này hiền hữu, chính trong tấm thân dài một sải tay này, có tưởng, có tâm, Ta tuyên bố về thế gian, về thế gian tập khởi, về thế gian đoạn diệt, và về con đường đưa đến thế gian đoạn diệt.”
“‘Này hiền hữu, nơi nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không tái sanh, Ta không tuyên bố rằng nơi tận cùng của thế gian ấy có thể được biết, được thấy, được đạt đến bằng cách đi.’ Và này hiền hữu, Ta cũng không tuyên bố rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế gian. Nhưng này hiền hữu, chính trong tấm thân dài một sải tay này, có tưởng, có tâm, Ta tuyên bố về thế gian, về thế gian tập khởi, về thế gian đoạn diệt, và về con đường đưa đến thế gian đoạn diệt.”
Gamanena na pattabbo, lokassanto kudācanaṁ; Na ca appatvā lokantaṁ, dukkhā atthi pamocanaṁ.
The end of the world can never be reached by traveling. But without reaching the end of the world, there’s no release from suffering.
“Không thể nào bằng cách đi, đạt đến tận cùng thế gian; Và không đạt tận cùng thế gian, không thể thoát khỏi khổ đau.”
Tasmā have lokavidū sumedho, Lokantagū vusitabrahmacariyo; Lokassa antaṁ samitāvi ñatvā, Nāsīsatī lokamimaṁ parañcā”ti.
Pañcamaṁ.
So an intelligent person, understanding the world, has completed the spiritual journey and gone to the end of the world. Assuaged, knowing the end of the world, they do not hope for this world or the next.”
“Do vậy, bậc trí tuệ, bậc thông hiểu thế gian, bậc đã đến tận cùng thế gian, đã sống đời phạm hạnh, bậc tịch tịnh, sau khi biết được tận cùng của thế gian, không còn mong cầu đời này hay đời sau.”