- Aṅguttara Nikāya 4.181
- 19. Brāhmaṇavagga
Bản dịch
AN 4.181 — Người Chiến Sĩ
Yodhājīvasutta
TTC 1—Thành tựu bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, một chiến sĩ xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ thiện xảo về xạ trình, là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng, và đâm thủng được vật lớn.
Thành tựu bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, một chiến sĩ xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình, là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng, và đâm thủng được vật lớn.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là người có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, có uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn xa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phàm sắc gì thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Phàm có cảm thọ gì thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả cảm thọ, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Phàm có tưởng gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả tưởng, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Phàm có các hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các hành, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Phàm có thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các thức, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri: “Ðây là khổ”, như thật quán tri: “Ðây là khổ tập”; như thật quán tri: “Ðây là khổ diệt”, như thật quán tri “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng.
TTC 6Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đâm thủng vô minh uẩn to lớn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn.
Ðầy đủ bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.181
- 19. Brahmins
A Warrior
1. Kinh Người Chiến Binh
“Catūhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato yodhājīvo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi catūhi? Idha, bhikkhave, yodhājīvo ṭhānakusalo ca hoti, dūrepātī ca, akkhaṇavedhī ca, mahato ca kāyassa padāletā. Imehi kho, bhikkhave, catūhi aṅgehi samannāgato yodhājīvo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi catūhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu ṭhānakusalo ca hoti, dūrepātī ca, akkhaṇavedhī ca, mahato ca kāyassa padāletā.
“Mendicants, a warrior with four factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned a factor of kingship. What four? He’s skilled in the basics, a long-distance shooter, a marksman, one who shatters large objects. A warrior with these four factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned a factor of kingship.
In the same way, a mendicant with four qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What four? He’s skilled in the basics, a long-distance shooter, a marksman, one who shatters large objects.
181. Này các Tỳ khưu, người chiến binh được trang bị bốn chi phần thì xứng đáng với vua, là vật sở hữu của vua, và được xem như là một bộ phận của vua. Bốn chi phần nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, người chiến binh thiện xảo về vị trí, bắn được xa, bắn trúng mục tiêu trong chớp mắt, và xuyên thủng được vật thể lớn. Này các Tỳ khưu, chính do được trang bị bốn chi phần này mà người chiến binh xứng đáng với vua, là vật sở hữu của vua, và được xem như là một bộ phận của vua. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu được trang bị bốn pháp thì đáng được cúng dường, đáng được khoản đãi, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng cho đời. Bốn pháp nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu thiện xảo về vị trí, bắn được xa, bắn trúng mục tiêu trong chớp mắt, và xuyên thủng được vật thể lớn.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ṭhānakusalo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ṭhānakusalo hoti.
And how is a mendicant skilled in the basics? It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. That’s how a mendicant is skilled in the basics.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu thiện xảo về vị trí? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu có giới đức... (như trên)... thọ trì và tu học trong các học giới. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu thiện xảo về vị trí.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu dūrepātī hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati. Yā kāci vedanā … yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu dūrepātī hoti.
And how is a mendicant a long-distance shooter? It’s when a mendicant truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ They truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ That’s how a mendicant is a long-distance shooter.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu bắn được xa? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu đối với bất cứ sắc nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, vị ấy thấy tất cả sắc với chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Đối với bất cứ thọ nào... (như trên)... đối với bất cứ tưởng nào... đối với bất cứ hành nào... đối với bất cứ thức nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, vị ấy thấy tất cả thức với chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu bắn được xa.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu akkhaṇavedhī hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu akkhaṇavedhī hoti.
And how is a mendicant a marksman? It’s when they truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. That’s how a mendicant is a marksman.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu bắn trúng mục tiêu trong chớp mắt? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ,’... (như trên)... tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ.’ Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu bắn trúng mục tiêu trong chớp mắt.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu mahato kāyassa padāletā hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu mahantaṁ avijjākkhandhaṁ padāletā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu mahato kāyassa padāletā hoti.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Paṭhamaṁ.
And how does a mendicant shatter large objects? It’s when a mendicant shatters the great mass of ignorance. That’s how a mendicant shatters large objects.
A mendicant with these four qualities … is the supreme field of merit for the world.”
Và này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu xuyên thủng được vật thể lớn? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu xuyên thủng được khối vô minh to lớn. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu xuyên thủng được vật thể lớn. Này các Tỳ khưu, chính do được trang bị bốn pháp này mà Tỳ khưu đáng được cúng dường... (như trên)... là ruộng phước vô thượng cho đời. (Kinh) thứ nhất.