- Aṅguttara Nikāya 4.180
- 18. Sañcetaniyavagga
Bản dịch
AN 4.180 — Căn Cứ Ðịa
Mahāpadesasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại điện Ananda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về bốn đại căn cứ địa này. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn đại căn cứ địa?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 3Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo tốt đẹp”. Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ nhất các Thầy cần phải thọ trì.
TTC 4Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 5Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ hai các Thầy cần phải thọ trì.
TTC 6Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 7Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đại căn cứ địa thứ ba các Thầy cần phải thọ trì.
TTC 8Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 9Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Trưởng lão ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải thọ trì.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đại căn cứ địa này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.180
- 18. Intention
The Four Great References
10. Kinh Mahāpadesa (Đại Chứng Tích)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bhoganagare viharati ānandacetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca: “cattārome, bhikkhave, mahāpadese desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was staying near the Bhoga City, at the Ānanda Shrine.
There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this: “Mendicants, I will teach you the four great references. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
180. Một thời, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại đền Ānanda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu.' 'Bạch Thế Tôn,' các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này: 'Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng về bốn Đại Chứng Tích. Các ngươi hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.' 'Vâng, bạch Thế Tôn,' các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Katame, bhikkhave, cattāro mahāpadesā?
Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa; imassa ca bhikkhuno duggahitan’ti. Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
“Mendicants, what are the four great references?
Take a mendicant who says: ‘Reverend, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been incorrectly memorized by that mendicant.’ And so you should discard it.
Take another mendicant who says:
Này các Tỳ khưu, thế nào là bốn Đại Chứng Tích? Này các Tỳ khưu, ở đây, một Tỳ khưu có thể nói như vầy: 'Thưa các hiền giả, điều này tôi đã trực tiếp nghe từ Thế Tôn, trực tiếp lãnh thọ: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.' Này các Tỳ khưu, lời nói của Tỳ khưu ấy không nên tán thán, cũng không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, sau khi học thuộc kỹ lưỡng các câu và chữ ấy, cần phải đối chiếu trong Kinh, so sánh trong Luật. Nếu khi đối chiếu trong Kinh, so sánh trong Luật, chúng không phù hợp trong Kinh, không tương ứng trong Luật, thì nên đi đến kết luận ở đây rằng: 'Chắc chắn, đây không phải là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; và điều này đã bị Tỳ khưu kia nắm giữ sai lạc.' Này các Tỳ khưu, vì vậy, các ngươi nên từ bỏ nó.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một Tỳ khưu có thể nói như vầy: 'Thưa các hiền giả, điều này tôi đã trực tiếp nghe từ Thế Tôn, trực tiếp lãnh thọ: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.' Này các Tỳ khưu, lời nói của Tỳ khưu ấy không nên tán thán, cũng không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, sau khi học thuộc kỹ lưỡng các câu và chữ ấy, cần phải đối chiếu trong Kinh, so sánh trong Luật. Nếu khi đối chiếu trong Kinh, so sánh trong Luật, chúng phù hợp trong Kinh, và tương ứng trong Luật, thì nên đi đến kết luận ở đây rằng: 'Chắc chắn, đây là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; và điều này đã bị Tỳ khưu kia nắm giữ đúng đắn.' Này các Tỳ khưu, các ngươi hãy ghi nhớ Đại Chứng Tích thứ nhất này.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘asukasmiṁ nāma āvāse saṅgho viharati sathero sapāmokkho. Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa; tassa ca saṅghassa duggahitan’ti. Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery lives a Saṅgha with seniors and leaders. I’ve heard and learned this in the presence of that Saṅgha: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been incorrectly memorized by that Saṅgha.’ And so you should discard it.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây vị tỳ khưu có thể nói như vầy: ‘Tại trú xứ tên là như thế kia, có Tăng chúng cùng với vị trưởng lão và vị प्रमुख trú ngụ. Chính tôi đã trực tiếp nghe, đã trực tiếp thọ trì từ Tăng chúng ấy rằng: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.”’ Này các tỳ khưu, lời nói của vị tỳ khưu ấy không nên tán thành, không nên bác bỏ. Không tán thành, không bác bỏ, nên học kỹ những câu và chữ ấy rồi đem đối chiếu trong Kinh, đem so sánh trong Luật. Nếu khi được đối chiếu trong Kinh, được so sánh trong Luật, chúng không phù hợp trong Kinh, không tương ứng trong Luật, thì ở đây nên đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn, đây không phải là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Đấng Chánh Đẳng Giác; và Tăng chúng ấy đã thọ trì sai.’ Này các tỳ khưu, vì thế nên loại bỏ điều ấy.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘asukasmiṁ nāma āvāse saṅgho viharati sathero sapāmokkho. Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte otāriyamānāni, vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa; tassa ca saṅghassa suggahitan’ti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery lives a Saṅgha with seniors and leaders. I’ve heard and learned this in the presence of that Saṅgha: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been correctly memorized by that Saṅgha.’ You should remember it. This is the second great reference.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây vị tỳ khưu có thể nói như vầy: ‘Tại trú xứ tên là như thế kia, có Tăng chúng cùng với vị trưởng lão và vị प्रमुख trú ngụ. Chính tôi đã trực tiếp nghe, đã trực tiếp thọ trì từ Tăng chúng ấy rằng: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.”’ Này các tỳ khưu, lời nói của vị tỳ khưu ấy không nên tán thành, không nên bác bỏ. Không tán thành, không bác bỏ, nên học kỹ những câu và chữ ấy rồi đem đối chiếu trong Kinh, đem so sánh trong Luật. Nếu khi được đối chiếu trong Kinh, được so sánh trong Luật, chúng phù hợp trong Kinh và tương ứng trong Luật, thì ở đây nên đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn, đây là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Đấng Chánh Đẳng Giác; và Tăng chúng ấy đã thọ trì đúng.’ Này các tỳ khưu, các thầy nên ghi nhớ đại pháp cứ thứ hai này.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘asukasmiṁ nāma āvāse sambahulā therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā. Tesaṁ me therānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa; tesañca therānaṁ duggahitan’ti. Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there are several senior mendicants who are very learned, inheritors of the heritage, who remember the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of those senior mendicants: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been incorrectly memorized by those senior mendicants.’ And so you should discard it.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây vị tỳ khưu có thể nói như vầy: ‘Tại trú xứ tên là như thế kia, có nhiều vị tỳ khưu trưởng lão trú ngụ, là bậc đa văn, thông suốt Āgama, bậc trì Pháp, bậc trì Luật, bậc trì Mātikā. Chính tôi đã trực tiếp nghe, đã trực tiếp thọ trì từ các vị trưởng lão ấy rằng: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.”’ Này các tỳ khưu, lời nói của vị tỳ khưu ấy không nên tán thành, không nên bác bỏ. Không tán thành, không bác bỏ, nên học kỹ những câu và chữ ấy rồi đem đối chiếu trong Kinh, đem so sánh trong Luật. Nếu khi được đối chiếu trong Kinh, được so sánh trong Luật, chúng không phù hợp trong Kinh, không tương ứng trong Luật, thì ở đây nên đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn, đây không phải là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Đấng Chánh Đẳng Giác; và các vị trưởng lão ấy đã thọ trì sai.’ Này các tỳ khưu, vì thế nên loại bỏ điều ấy.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘asukasmiṁ nāma āvāse sambahulā therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā. Tesaṁ me therānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa; tesañca therānaṁ suggahitan’ti. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there are several senior mendicants who are very learned, inheritors of the heritage, who remember the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of those senior mendicants: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been correctly memorized by those senior mendicants.’ You should remember it. This is the third great reference.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây vị tỳ khưu có thể nói như vầy: ‘Tại trú xứ tên là như thế kia, có nhiều vị tỳ khưu trưởng lão trú ngụ, là bậc đa văn, thông suốt Āgama, bậc trì Pháp, bậc trì Luật, bậc trì Mātikā. Chính tôi đã trực tiếp nghe, đã trực tiếp thọ trì từ các vị trưởng lão ấy rằng: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.”’ Này các tỳ khưu, lời nói của vị tỳ khưu ấy không nên tán thành, không nên bác bỏ. Không tán thành, không bác bỏ, nên học kỹ những câu và chữ ấy rồi đem đối chiếu trong Kinh, đem so sánh trong Luật. Nếu khi được đối chiếu trong Kinh, được so sánh trong Luật, chúng phù hợp trong Kinh và tương ứng trong Luật, thì ở đây nên đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn, đây là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Đấng Chánh Đẳng Giác; và các vị trưởng lão ấy đã thọ trì đúng.’ Này các tỳ khưu, các thầy nên ghi nhớ đại pháp cứ thứ ba này.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘asukasmiṁ nāma āvāse eko thero bhikkhu viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo. Tassa me therassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa; tassa ca therassa duggahitan’ti. Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there is a single senior mendicant who is very learned, an inheritor of the heritage, who has memorized the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of that senior mendicant: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been incorrectly memorized by that senior mendicant.’ And so you should discard it.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây vị tỳ khưu có thể nói như vầy: ‘Tại trú xứ tên là như thế kia, có một vị tỳ khưu trưởng lão trú ngụ, là bậc đa văn, thông suốt Āgama, bậc trì Pháp, bậc trì Luật, bậc trì Mātikā. Chính tôi đã trực tiếp nghe, đã trực tiếp thọ trì từ vị trưởng lão ấy rằng: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.”’ Này các tỳ khưu, lời nói của vị tỳ khưu ấy không nên tán thành, không nên bác bỏ. Không tán thành, không bác bỏ, nên học kỹ những câu và chữ ấy rồi đem đối chiếu trong Kinh, đem so sánh trong Luật. Nếu khi được đối chiếu trong Kinh, được so sánh trong Luật, chúng không phù hợp trong Kinh, không tương ứng trong Luật, thì ở đây nên đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn, đây không phải là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Đấng Chánh Đẳng Giác; và vị trưởng lão ấy đã thọ trì sai.’ Này các tỳ khưu, vì thế nên loại bỏ điều ấy.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘asukasmiṁ nāma āvāse eko thero bhikkhu viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo. Tassa me therassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa; tassa ca therassa suggahitan’ti. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Ime kho, bhikkhave, cattāro mahāpadesā”ti.
Dasamaṁ.
Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there is a single senior mendicant who is very learned, an inheritor of the heritage, who has memorized the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of that senior mendicant: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. It has been correctly memorized by that senior mendicant.’ You should remember it. This is the fourth great reference.
These are the four great references.”
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một Tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Tại trú xứ tên là..., có một vị Tỳ khưu trưởng lão trú ngụ, là bậc đa văn, thông suốt A-hàm, trì Pháp, trì Luật, trì các Mẫu đề. Lời dạy này đã được tôi trực tiếp nghe, trực tiếp thọ trì từ vị trưởng lão ấy: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.’ Này các Tỳ khưu, lời nói của vị Tỳ khưu ấy không nên tán thán, cũng không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, sau khi học thuộc kỹ lưỡng những câu và chữ ấy, cần phải đối chiếu trong Kinh, so sánh trong Luật. Nếu khi đối chiếu trong Kinh, so sánh trong Luật, chúng phù hợp trong Kinh và tương ứng trong Luật, thì ở đây nên đi đến kết luận: ‘Chắc chắn đây là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; và đã được vị trưởng lão ấy khéo thọ trì.’ Này các Tỳ khưu, các ông hãy ghi nhớ đại tham chiếu thứ tư này. Này các Tỳ khưu, đây chính là bốn đại tham chiếu. (Kinh) thứ mười.
Sañcetaniyavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Cố Ý, thứ ba.
Cetanā vibhatti koṭṭhiko, Ānando upavāṇapañcamaṁ; Āyācana rāhula jambālī, Nibbānaṁ mahāpadesenāti.
Cố ý, Phân tích, Koṭṭhika, Ānanda, và Upavāṇa là thứ năm; Thỉnh cầu, Rāhula, Jambālī, Niết-bàn, và Đại tham chiếu.