- Aṅguttara Nikāya 4.139
- 14. Puggalavagga
Bản dịch
AN 4.139 — Thuyết Pháp
Dhammakathikasutta
TTC 1—Có bốn hạng người thuyết pháp này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuyết pháp, ít nói và không liên hệ đến vấn đề; và hội chúng không thiện xảo về liên hệ hay không liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một hội chúng tương tự.
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuyết pháp, ít nói và liên hệ đến vấn đề; và hội chúng thiện xảo về liên hệ hay không liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một hội chúng tương tự.
TTC 3Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuyết pháp, nói nhiều và không liên hệ đến vấn đề; và hội chúng không thiện xảo về liên hệ hay không liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một hội chúng tương tự.
TTC 4Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuyết pháp, nói nhiều và liên hệ đến vấn đề; và hội chúng thiện xảo về liên hệ hay không liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một hội chúng tương tự.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người thuyết pháp này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.139
- 14. Individuals
Dhamma Speakers
9. Kinh Dhammakathika (Vị Thuyết Pháp)
“Cattārome, bhikkhave, dhammakathikā. Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco dhammakathiko appañca bhāsati asahitañca; parisā cassa na kusalā hoti sahitāsahitassa. Evarūpo, bhikkhave, dhammakathiko evarūpāya parisāya dhammakathikotveva saṅkhaṁ gacchati.
“Mendicants, there are these four Dhamma speakers. What four?
One Dhamma speaker speaks little and off topic. And their assembly can’t tell what’s on topic and what’s off topic. Such an assembly regards such a Dhamma speaker simply as a Dhamma speaker.
139. Này các tỳ khưu, có bốn hạng người thuyết pháp này. Bốn hạng nào? Này các tỳ khưu, ở đây, có hạng người thuyết pháp nói ít và nói không liên quan đến lợi ích; và hội chúng của vị ấy không khéo léo về điều liên quan đến lợi ích và không liên quan đến lợi ích. Này các tỳ khưu, hạng người thuyết pháp như vậy, đối với hội chúng như vậy, được xem là một vị thuyết pháp.
Idha pana, bhikkhave, ekacco dhammakathiko appañca bhāsati sahitañca; parisā cassa kusalā hoti sahitāsahitassa. Evarūpo, bhikkhave, dhammakathiko evarūpāya parisāya dhammakathikotveva saṅkhaṁ gacchati.
One Dhamma speaker speaks little but stays on topic. And their assembly can tell what’s on topic and what’s off topic. Such an assembly regards such a Dhamma speaker simply as a Dhamma speaker.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có hạng người thuyết pháp nói ít và nói liên quan đến lợi ích; và hội chúng của vị ấy khéo léo về điều liên quan đến lợi ích và không liên quan đến lợi ích. Này các tỳ khưu, hạng người thuyết pháp như vậy, đối với hội chúng như vậy, được xem là một vị thuyết pháp.
Idha pana, bhikkhave, ekacco dhammakathiko bahuñca bhāsati asahitañca; parisā cassa na kusalā hoti sahitāsahitassa. Evarūpo, bhikkhave, dhammakathiko evarūpāya parisāya dhammakathikotveva saṅkhaṁ gacchati.
One Dhamma speaker speaks much but off topic. And their assembly can’t tell what’s on topic and what’s off topic. Such an assembly regards such a Dhamma speaker simply as a Dhamma speaker.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có hạng người thuyết pháp nói nhiều và nói không liên quan đến lợi ích; và hội chúng của vị ấy không khéo léo về điều liên quan đến lợi ích và không liên quan đến lợi ích. Này các tỳ khưu, hạng người thuyết pháp như vậy, đối với hội chúng như vậy, được xem là một vị thuyết pháp.
Idha pana, bhikkhave, ekacco dhammakathiko bahuñca bhāsati sahitañca; parisā cassa kusalā hoti sahitāsahitassa. Evarūpo, bhikkhave, dhammakathiko evarūpāya parisāya dhammakathikotveva saṅkhaṁ gacchati.
Ime kho, bhikkhave, cattāro dhammakathikā”ti.
Navamaṁ.
One Dhamma speaker speaks much and stays on topic. And their assembly can tell what’s on topic and what’s off topic. Such an assembly regards such a Dhamma speaker simply as a Dhamma speaker.
These are the four Dhamma speakers.”
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có hạng người thuyết pháp nói nhiều và nói liên quan đến lợi ích; và hội chúng của vị ấy khéo léo về điều liên quan đến lợi ích và không liên quan đến lợi ích. Này các tỳ khưu, hạng người thuyết pháp như vậy, đối với hội chúng như vậy, được xem là một vị thuyết pháp. Này các tỳ khưu, đây là bốn hạng người thuyết pháp. (Kinh) thứ chín.