- Aṅguttara Nikāya 4.117
- 12. Kesivagga
Bản dịch
AN 4.117 — Hộ Trì
Ārakkhasutta
TTC 1—Trong bốn trường hợp, này các Tỷ-kheo, không phóng dật, niệm và tâm hộ trì cần phải làm do tự mình. Thế nào là bốn?
Với ý nghĩ: “Mong rằng đối với các pháp khiến cho tham đắm, tâm ta chớ có tham đắm!”, không phóng dật, niệm và tâm hộ trì cần phải làm do tự mình. Với ý nghĩ: “Mong rằng đối với các pháp khiến cho sân hận, tâm ta chớ có sân hận!”, không phóng dật, niệm … do tự mình. Với ý nghĩ: “Mong rằng đối với các pháp khiến cho si mê, tâm ta chớ có si mê!”, không phóng dật, niệm … do tự mình. Với ý nghĩ: “Mong rằng đối với các pháp khiến cho say đắm, tâm ta chớ có say đắm!”, không phóng dật, niệm và tâm hộ trì cần phải làm do tự mình.
TTC 2Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các pháp khiến cho tham đắm, tâm không tham đắm, tự ngã được ly tham; đối với các pháp khiến cho sân hận, tâm không sân hận, tự ngã được ly sân; đối với các pháp khiến cho si mê, tâm không si mê, tự ngã được ly si; đối với các pháp khiến cho say đắm, tâm không say đắm, tự ngã được ly đắm say; thời vị ấy không có sợ hãi, không có dao động, không có hốt hoảng, không rơi vào hoảng sợ, không có đi do nhân các Sa-môn có nói gì.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.117
- 12. With Kesi
Guarding
7. Kinh Hộ Trì
“Catūsu, bhikkhave, ṭhānesu attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo. Katamesu catūsu?
‘Mā me rajanīyesu dhammesu cittaṁ rajjī’ti attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo;
‘mā me dosanīyesu dhammesu cittaṁ dussī’ti attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo;
‘mā me mohanīyesu dhammesu cittaṁ muyhī’ti attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo;
‘mā me madanīyesu dhammesu cittaṁ majjī’ti attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo.
“Mendicants, in your own way you should practice diligence, mindfulness, and guarding of the mind in four situations. What four?
‘May my mind not be aroused by things that arouse greed.’ In your own way you should practice diligence, mindfulness, and guarding of the mind.
‘May my mind not be angered by things that provoke hate.’ …
‘May my mind not be deluded by things that promote delusion.’ …
‘May my mind not be intoxicated by things that intoxicate.’ …
117. “Này các Tỳ khưu, trong bốn trường hợp, người mong cầu lợi ích cho mình nên thực hành không phóng dật, chánh niệm, hộ trì tâm. Bốn trường hợp nào? ‘Mong rằng tâm ta không tham ái trong các pháp đáng tham ái,’ người mong cầu lợi ích cho mình nên thực hành không phóng dật, chánh niệm, hộ trì tâm; ‘Mong rằng tâm ta không sân hận trong các pháp đáng sân hận,’ người mong cầu lợi ích cho mình nên thực hành không phóng dật, chánh niệm, hộ trì tâm; ‘Mong rằng tâm ta không si mê trong các pháp đáng si mê,’ người mong cầu lợi ích cho mình nên thực hành không phóng dật, chánh niệm, hộ trì tâm; ‘Mong rằng tâm ta không kiêu mạn trong các pháp đáng kiêu mạn,’ người mong cầu lợi ích cho mình nên thực hành không phóng dật, chánh niệm, hộ trì tâm.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno rajanīyesu dhammesu cittaṁ na rajjati vītarāgattā, dosanīyesu dhammesu cittaṁ na dussati vītadosattā, mohanīyesu dhammesu cittaṁ na muyhati vītamohattā, madanīyesu dhammesu cittaṁ na majjati vītamadattā, so na chambhati na kampati na vedhati na santāsaṁ āpajjati, na ca pana samaṇavacanahetupi gacchatī”ti.
Sattamaṁ.
When a mendicant’s mind is no longer affected by greed, hate, delusion, or intoxication because they’ve got rid of these things, they don’t shake, tremble, quake, or get nervous, nor are they persuaded by the teachings of other ascetics.”
“Này các Tỳ khưu, khi nào tâm của vị Tỳ khưu không tham ái trong các pháp đáng tham ái vì đã ly tham, tâm không sân hận trong các pháp đáng sân hận vì đã ly sân, tâm không si mê trong các pháp đáng si mê vì đã ly si, tâm không kiêu mạn trong các pháp đáng kiêu mạn vì đã ly kiêu mạn, vị ấy không sững sờ, không run rẩy, không dao động, không đi đến kinh hãi, và cũng không đi theo vì lời nói của các Sa-môn khác.” Hết kinh thứ bảy.