- Aṅguttara Nikāya 4.116
- 12. Kesivagga
Bản dịch
AN 4.116 — Không Phóng Dật
Appamādasutta
TTC 1—Trong bốn trường hợp, này các Tỷ-kheo, cần phải không phóng dật. Thế nào là bốn?
Hãy từ bỏ thân làm ác, này các Tỷ-kheo, hãy tu tập thân làm lành, và ở đây chớ có phóng dật. Hãy từ bỏ lời nói ác, này các Tỷ-kheo, hãy tu tập lời nói lành, và ở đây chớ có phóng dật. Hãy từ bỏ ý nghĩ ác, này các Tỷ-kheo, hãy tu tập ý nghĩ lành, và ở đây chớ có phóng dật. Hãy từ bỏ tà kiến, này các Tỷ-kheo, hãy tu tập chánh kiến, và ở đây chớ có phóng dật.
TTC 2Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã từ bỏ thân làm ác, tu tập thân làm lành … (như trên) … . đã từ bỏ tà kiến, đã tu tập chánh kiến, vị ấy không sợ hãi về đời sau, về chết.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.116
- 12. With Kesi
Diligence
6. Kinh Không Phóng Dật
“Catūhi, bhikkhave, ṭhānehi appamādo karaṇīyo. Katamehi catūhi? Kāyaduccaritaṁ, bhikkhave, pajahatha, kāyasucaritaṁ bhāvetha; tattha ca mā pamādattha. Vacīduccaritaṁ, bhikkhave, pajahatha, vacīsucaritaṁ bhāvetha; tattha ca mā pamādattha. Manoduccaritaṁ, bhikkhave, pajahatha, manosucaritaṁ bhāvetha; tattha ca mā pamādattha. Micchādiṭṭhiṁ, bhikkhave, pajahatha, sammādiṭṭhiṁ bhāvetha; tattha ca mā pamādattha.
“Mendicants, you should be diligent in four situations. What four? Give up bad conduct by way of body, speech, and mind; and develop good conduct by way of body, speech, and mind. Don’t neglect these things. Give up wrong view; and develop right view. Don’t neglect this.
116. “Này các Tỳ khưu, nên thực hành không phóng dật trong bốn trường hợp. Bốn trường hợp nào? Này các Tỳ khưu, hãy từ bỏ thân ác hạnh, hãy tu tập thân thiện hạnh; và trong việc ấy, chớ có phóng dật. Này các Tỳ khưu, hãy từ bỏ khẩu ác hạnh, hãy tu tập khẩu thiện hạnh; và trong việc ấy, chớ có phóng dật. Này các Tỳ khưu, hãy từ bỏ ý ác hạnh, hãy tu tập ý thiện hạnh; và trong việc ấy, chớ có phóng dật. Này các Tỳ khưu, hãy từ bỏ tà kiến, hãy tu tập chánh kiến; và trong việc ấy, chớ có phóng dật.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno kāyaduccaritaṁ pahīnaṁ hoti kāyasucaritaṁ bhāvitaṁ, vacīduccaritaṁ pahīnaṁ hoti vacīsucaritaṁ bhāvitaṁ, manoduccaritaṁ pahīnaṁ hoti manosucaritaṁ bhāvitaṁ, micchādiṭṭhi pahīnā hoti sammādiṭṭhi bhāvitā, so na bhāyati samparāyikassa maraṇassā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
A mendicant who has done these things does not fear death in lives to come.”
“Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ khưu đã từ bỏ thân ác hạnh và đã tu tập thân thiện hạnh, đã từ bỏ khẩu ác hạnh và đã tu tập khẩu thiện hạnh, đã từ bỏ ý ác hạnh và đã tu tập ý thiện hạnh, đã từ bỏ tà kiến và đã tu tập chánh kiến, vị ấy không sợ hãi cái chết ở đời sau.” Hết kinh thứ sáu.