- Aṅguttara Nikāya 3.90
- 9. Samaṇavagga
Bản dịch
AN 3.90 — Học Pháp
Dutiyasikkhattayasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có ba học pháp này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học.
… (Hoàn toàn giống như kinh trước với tăng thượng giới học và tăng thượng định học, nhưng tăng thượng tuệ học có khác) …
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tăng thượng tuệ học? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo do đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tăng thượng tuệ học. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba học pháp.
Người tinh tấn, nghị lực
Kiên trì và Thiền tu
Sống hộ trì các căn
Hãy hành ba tăng thượng
Trước thế nào, sau vậy
Sau thế nào, trước vậy
Dưới thế nào, trên vậy
Trên thế nào, dưới vậy
Ngày thế nào, đêm vậy
Ðêm thế nào, ngày vậy.
Hãy nhiếp phục mọi phương
Với vô lượng tâm định
Ðây gọi hữu đạo học
Là thuần tịnh hạnh đức
Ðây gọi là Chánh giác
Bậc trí đạt tối hậu
Với thức được đoạn diệt
Ái diệt, được giải thoát
Như đèn sáng tịch diệt
Tâm vị ấy giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.90
- 9. Ascetics
Three Trainings (2nd)
10. Kinh Ba Học Pháp (thứ hai)
“Tisso imā, bhikkhave, sikkhā. Katamā tisso? Adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā.
“Mendicants, these are the three trainings. What three? The training in the higher ethics, the higher mind, and the higher wisdom.
91. “Này các Tỳ khưu, có ba học pháp này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, và tăng thượng tuệ học.”
Katamā ca, bhikkhave, adhisīlasikkhā? Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, adhisīlasikkhā.
And what is the training in the higher ethics? It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. This is called the training in the higher ethics.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tăng thượng giới học? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu có giới hạnh... (v.v.)... chấp nhận và tu học trong các học giới. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là tăng thượng giới học.”
Katamā ca, bhikkhave, adhicittasikkhā? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, adhicittasikkhā.
And what is the training in the higher mind? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption. This is called the training in the higher mind.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tăng thượng tâm học? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu ly dục... (v.v.)... chứng và trú thiền thứ tư. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là tăng thượng tâm học.”
Katamā ca, bhikkhave, adhipaññāsikkhā? Idha, bhikkhave, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, adhipaññāsikkhā. Imā kho, bhikkhave, tisso sikkhāti.
And what is the training in the higher wisdom? It’s when a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This is called the training in the higher wisdom. These are the three trainings.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tăng thượng tuệ học? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ và đạt đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong hiện tại. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là tăng thượng tuệ học. Này các Tỳ khưu, đây là ba học pháp.”
Adhisīlaṁ adhicittaṁ, adhipaññañca vīriyavā; Thāmavā dhitimā jhāyī, sato guttindriyo care.
The higher ethics, the higher mind, and the higher wisdom should be practiced by those energetic, steadfast, and resolute, practicing absorption, mindful, with guarded senses.
“Bậc tinh cần, có sức mạnh, kiên trì, thiền định, chánh niệm, hộ trì các căn, hãy thực hành tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ.”
Yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure; Yathā adho tathā uddhaṁ, yathā uddhaṁ tathā adho.
As before, so behind; as behind, so before. As below, so above; as above, so below.
“Như trước thế nào, sau cũng thế ấy; như sau thế nào, trước cũng thế ấy. Như dưới thế nào, trên cũng thế ấy; như trên thế nào, dưới cũng thế ấy.”
Yathā divā tathā rattiṁ, yathā rattiṁ tathā divā; Abhibhuyya disā sabbā, appamāṇasamādhinā.
As by day, so by night; as by night, so by day. Having mastered every direction with limitless immersion,
“Như ngày thế nào, đêm cũng thế ấy; như đêm thế nào, ngày cũng thế ấy. Với định vô lượng, chinh phục tất cả các phương.”
Tamāhu sekhaṁ paṭipadaṁ, atho saṁsuddhacāriyaṁ; Tamāhu loke sambuddhaṁ, dhīraṁ paṭipadantaguṁ.
they call them a ‘trainee on the path’, and ‘one living a pure life’. But a wise one who has gone to the end of the path they call a ‘Buddha’ in the world.
“Vị ấy, người đang trên đạo lộ, lại có hạnh thanh tịnh, được gọi là bậc Hữu học. Vị ấy, bậc hiền trí, đã đi đến cuối con đường, được gọi là bậc Chánh Giác trong thế gian.”
Viññāṇassa nirodhena, taṇhākkhayavimuttino; Pajjotasseva nibbānaṁ, vimokkho hoti cetaso”ti.
Dasamaṁ.
With the cessation of consciousness, freed by the ending of craving, the liberation of their heart is like a lamp going out.”
“Với sự diệt tận của thức, đối với người đã giải thoát nhờ đoạn tận ái, sự giải thoát của tâm giống như ngọn đèn đã tắt.” (Kinh thứ) mười.