- Aṅguttara Nikāya 3.91
- 9. Samaṇavagga
Bản dịch
AN 3.91 — Pankadhà
Saṅkavāsutta
TTC 1Một thời Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một thị trấn của dân chúng Kosala, tên là Pankadhà. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Pankadhà. Pankadhà là một thị trấn của dân chúng Kosala.
Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo tên là Kassapogotta trú ở Pankadhà. Tại đấy, Thế Tôn với một pháp thoại liên hệ đến học giới, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ. Rồi Tỷ-kheo Kassapogotta, trong khi Thế Tôn với một pháp thoại liên hệ đến học pháp, giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, lấy làm bất nhẫn, lấy làm bất mãn, nghĩ rằng: “Sa-môn này quá tăn măn tỉ mỉ!”.
TTC 2Thế Tôn, sau khi trú ở Pankadhà cho đến khi thỏa mãn, rồi ra đi, du hành hướng đến Ràjagaha, tiếp tục du hành và đến tại Ràjagaha. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Ràjagaha, núi Gitjjhakùta.
Rồi Tỷ-kheo Kassapogotta, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, cảm thấy hối hận, ăn năn, nghĩ rằng: “Thật không lợi ích cho ta, thật lợi ích không được tốt cho ta, thật không khéo lợi ích cho ta, khi Thế Tôn với pháp thoại liên hệ đến học pháp, giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, ta lại lấy làm bất nhẫn, lấy làm bất mãn, nghĩ rằng: “Sa-môn này quá tăn măn, tỉ mỉ! “. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, trước mặt Thế Tôn, hãy tỏ lộ có phạm tội là có phạm tội”.
TTC 3Rồi Tôn giả Kassapogotta, sau khi dọn dẹp lại chỗ nằm, cầm y bát, rồi ra đi đến hướng Ràjagaha, tiếp tục đi đến Ràjagaha, núi Gijjhakùta, đến Thế Tôn, sau khi đến. Ðảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kassapogotta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, một thời Thế Tôn trú ở Pankadhà, Pankadhà là một thị trấn các dân tộc Kosala. Tại đấy, Thế Tôn với một pháp thoại liên hệ đến pháp học, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, trong khi Thế Tôn, với một pháp thoại liên hệ đến pháp học, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, con lấy làm bất nhẫn, con cảm thấy bất mãn, nghĩ rằng: “Vị Sa-môn này quá tăn măn tỉ mỉ”. Rồi Thế Tôn sau khi trú ở Pankadhà cho đến khi thỏa mãn, liền ra đi, du hành đến Ràjagaha. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, con cảm thấy hối hận, ăn năn: “Thật không lợi ích cho ta, thật lợi ích không được tốt cho ta, thật không khéo lợi ích cho ta, khi Thế Tôn với pháp thoại liên hệ đến học pháp, giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, lại lấy làm bất nhẫn, lấy làm bất mãn, nghĩ rằng: “Sa-môn này quá tăn măn, tỉ mỉ!”. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, trước mặt Thế Tôn, hãy tỏ lộ có phạm tội là có phạm tội!”. Phạm tội đã chinh phục con, bạch Thế Tôn, ngu si như con, đần độn như con, bất thiện như con. Vì rằng trong khi Thế Tôn, với pháp thoại liên hệ đến pháp học, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, con lấy làm bất nhẫn, con cảm thấy bất mãn, nghĩ rằng: “Vị Sa-môn này quá tăn măn tỉ mỉ”. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận con có phạm tội là có phạm tội, để con ngăn chận trong tương lai.
TTC 4—Thật vậy, này Kassapogotta, phạm tội đã chinh phục Thầy, ngu si đần độn như Thầy, bất thiện như Thầy! Vì rằng trong khi ta với pháp thoại liên hệ đến pháp học, giảng dạy cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Thầy lại lấy làm bất nhẫn, lấy làm bất mãn, nghĩ rằng: “Vị Sa-môn này quá tăn măn tỉ mỉ”. Và này Kassapogotta, khi Thầy thấy có phạm tội là có phạm tội, và như pháp phát lộ, thời Ta chấp nhận cho Thầy. Ðây là sự tăng trưởng giới luật của bậc Thánh này, khi ai thấy có phạm tội là có phạm tội, và như pháp phát lộ, để ngăn chặn trong tương lai.
TTC 5Nếu một trưởng lão Tỷ-kheo, này Kassapa, không ưa thích học tập, không tán thán chấp hành học tập, và đối với các Tỷ-kheo không ưa thích học tập, vị này không khích lệ họ học tập. Còn đối với các Tỷ-kheo ưa thích học tập, vị này không tán thán họ chơn thực và đúng thời. Tỷ-kheo trưởng lão như vậy, này Kassapa, Ta không có tán thán. Vì cớ sao? Vì các Tỷ-kheo khác có thể thân cận với trưởng lão ấy, nghĩ rằng: “Bậc Ðạo sư tán thán vị ấy”. Và những ai thân cận với vị ấy, họ có thể chấp nhận tri kiến của vị ấy. Và những ai chấp nhận tri kiến của vị ấy, sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho họ. Do vậy, này Kassapa, Ta không tán thán Tỷ-kheo trưởng lão ấy.
TTC 6Nếu một trung niên Tỷ-kheo, này Kassapa, … nếu một tân học Tỷ-kheo, này Kassapa, không ưa thích học tập, không tán thán chấp hành học tập, và có các Tỷ-kheo không ưa thích học tập, vị này không khích lệ họ học tập. Còn đối với các Tỷ-kheo ưa thích học tập, vị này không tán thán họ chơn thực và đúng thời. Tỷ-kheo tân học như vậy, này Kassapa, Ta không có tán thán. Vì cớ sao? Vì các Tỷ-kheo khác có thể thân cận với Tỷ kheo tân học ấy, nghĩ rằng: “Bậc Ðạo sư tán thán vị ấy”. Và những ai thân cận với vị ấy, họ có thể chấp nhận tri kiến của vị ấy. Và những ai chấp nhận tri kiến của vị ấy, sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho họ. Do vậy, này Kassapa, Ta không tán thán Tỷ-kheo tân học ấy.
TTC 7Nếu một trưởng lão Tỷ-kheo, này Kassapa, ưa thích học tập, tán thán chấp hành học tập, và có các Tỷ-kheo không ưa thích học tập, vị này khích lệ họ học tập. Còn đối với các Tỷ-kheo ưa thích học tập, vị này tán thán họ chơn thực và đúng thời. Tỷ-kheo trưởng lão như vậy, này Kassapa, Ta tán thán. Vì cớ sao? Vì các Tỷ-kheo khác có thể thân cận với Tỷ kheo trưởng lão ấy, nghĩ rằng: “Bậc Ðạo sư tán thán vị ấy”. Và những ai thân cận với vị ấy, họ có thể chấp nhận tri kiến của vị ấy. Và những ai chấp nhận tri kiến của vị ấy, như vậy sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho họ. Do vậy, này Kassapa, Ta tán thán Tỷ-kheo trưởng lão ấy.
TTC 8Nếu một Tỷ-kheo trung niên, này Kassapa, … nếu một Tỷ-kheo tân học, này Kassapa, ưa thích học tập, tán thán chấp hành học tập, và có các Tỷ-kheo không ưa thích học tập, vị này khích lệ họ học tập. Còn đối với các Tỷ-kheo ưa thích học tập, vị này tán thán họ chơn thực và đúng thời. Tỷ-kheo tân học như vậy, này Kassapa, Ta tán thán. Vì cớ sao? Vì các Tỷ-kheo khác có thể thân cận với Tỷ kheo tân học ấy, nghĩ rằng: “Bậc Ðạo sư tán thán vị ấy”. Và những ai thân cận với vị ấy, họ có thể chấp nhận tri kiến của vị ấy. Và những ai chấp nhận tri kiến của vị ấy, sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho họ. Do vậy, này Kassapa, Ta tán thán Tỷ-kheo tân học ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.91
- 9. Ascetics
At Paṅkadhā
11. Kinh Saṅkavā
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena saṅkavā nāma kosalānaṁ nigamo tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā saṅkavāyaṁ viharati.
Tena kho pana samayena kassapagotto nāma bhikkhu saṅkavāyaṁ āvāsiko hoti. Tatra sudaṁ bhagavā sikkhāpadapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya bhikkhū sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti. Atha kho kassapagottassa bhikkhuno bhagavati sikkhāpadapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya bhikkhū sandassente samādapente samuttejente sampahaṁsente ahudeva akkhanti ahu appaccayo: “adhisallikhatevāyaṁ samaṇo”ti.
Atha kho bhagavā saṅkavāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharati.
Atha kho kassapagottassa bhikkhuno acirapakkantassa bhagavato ahudeva kukkuccaṁ ahu vippaṭisāro:
At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants. He arrived at a town of the Kosalans named Paṅkadhā, and stayed there.
Now, at that time a monk named Kassapagotta was resident at Paṅkadhā. There the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired the mendicants with a Dhamma talk about the training rules. Kassapagotta became quite impatient and bitter, thinking, “This ascetic is much too strict.”
When the Buddha had stayed in Paṅkadhā as long as he pleased, he set out for Rājagaha. Traveling stage by stage, he arrived at Rājagaha, and stayed there.
Soon after the Buddha left, Kassapagotta became quite remorseful and regretful, thinking,
92. Một thời, Thế Tôn đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ-khưu, ngài đi đến một thị trấn của xứ Kosala tên là Saṅkavā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Saṅkavā. Vào lúc ấy, có vị Tỳ-khưu tên là Kassapagotta là người trú tại Saṅkavā. Tại đó, Thế Tôn dùng pháp thoại liên quan đến học giới để chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu. Bấy giờ, khi Thế Tôn đang dùng pháp thoại liên quan đến học giới để chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu Kassapagotta khởi lên sự bất mãn, không hài lòng: “Vị Sa-môn này quá khắt khe.” Sau đó, Thế Tôn, sau khi trú ở Saṅkavā tùy thích, đã lên đường du hành đến Rājagaha. Du hành tuần tự, ngài đến Rājagaha. Tại đó, Thế Tôn trú ở Rājagaha.
Atha kho kassapagotto bhikkhu senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena rājagahaṁ tena pakkāmi. Anupubbena yena rājagahaṁ yena gijjhakūṭo pabbato yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kassapagotto bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
Then Kassapagotta set his lodgings in order and, taking his bowl and robe, set out for Rājagaha. Eventually he came to Rājagaha and the Vulture’s Peak. He went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened, saying:
Bấy giờ, không lâu sau khi Thế Tôn ra đi, Tỳ-khưu Kassapagotta khởi lên sự hối hận, ăn năn: “Thật không lợi cho ta, thật ta không được lợi! Thật ta đã được không tốt, thật ta đã không được tốt! Bởi vì khi Thế Tôn đang dùng pháp thoại liên quan đến học giới để chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu, ta đã khởi lên sự bất mãn, không hài lòng: ‘Vị Sa-môn này quá khắt khe.’ Ta nên đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ta nên thú nhận lỗi lầm đúng như lỗi lầm trước mặt Thế Tôn.” Bấy giờ, Tỳ-khưu Kassapagotta dọn dẹp chỗ ở, lấy y bát, rồi lên đường đến Rājagaha. Tuần tự đi đến Rājagaha, đến núi Gijjhakūṭa, đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tỳ-khưu Kassapagotta bạch với Thế Tôn điều này:
“Ekamidaṁ, bhante, samayaṁ bhagavā saṅkavāyaṁ viharati, saṅkavā nāma kosalānaṁ nigamo. Tatra, bhante, bhagavā sikkhāpadapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya bhikkhū sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Tassa mayhaṁ bhagavati sikkhāpadapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya bhikkhū sandassente samādapente samuttejente sampahaṁsente ahudeva akkhanti ahu appaccayo: ‘adhisallikhatevāyaṁ samaṇo’ti. Atha kho bhagavā saṅkavāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. (…) Tassa mayhaṁ, bhante, acirapakkantassa bhagavato ahudeva kukkuccaṁ ahu vippaṭisāro: ‘alābhā vata me, na vata me lābhā; dulladdhaṁ vata me, na vata me suladdhaṁ; yassa me bhagavati sikkhāpadapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya bhikkhū sandassente samādapente samuttejente sampahaṁsente ahudeva akkhanti ahu appaccayo: “adhisallikhatevāyaṁ samaṇo”ti. Yannūnāhaṁ yena bhagavā tenupasaṅkameyyaṁ; upasaṅkamitvā bhagavato santike accayaṁ accayato deseyyan’ti. Accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ yassa me bhagavati sikkhāpadapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya bhikkhū sandassente samādapente samuttejente sampahaṁsente ahudeva akkhanti ahu appaccayo: ‘adhisallikhatevāyaṁ samaṇo’ti. Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu, āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha taṁ, kassapa, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yassa te mayi sikkhāpadapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya bhikkhū sandassente samādapente samuttejente sampahaṁsente ahudeva akkhanti ahu appaccayo: ‘adhisallikhatevāyaṁ samaṇo’ti.
“I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me to become impatient and bitter when the Buddha was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk about the training rules, and to think, ‘This ascetic is much too strict.’ Please, sir, accept my mistake for what it is, so I will restrain myself in future.”
“Indeed, Kassapa, you made a mistake.
“Bạch Thế Tôn, một thời, Thế Tôn trú ở Saṅkavā, một thị trấn của xứ Kosala. Tại đó, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng pháp thoại liên quan đến học giới để chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu. Khi Thế Tôn đang dùng pháp thoại liên quan đến học giới để chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu, con đã khởi lên sự bất mãn, không hài lòng: ‘Vị Sa-môn này quá khắt khe.’ Sau đó, Thế Tôn, sau khi trú ở Saṅkavā tùy thích, đã lên đường du hành đến Rājagaha. Bạch Thế Tôn, không lâu sau khi Thế Tôn ra đi, con đã khởi lên sự hối hận, ăn năn: ‘Thật không lợi cho ta, thật ta không được lợi! Thật ta đã được không tốt, thật ta đã không được tốt! Bởi vì khi Thế Tôn đang dùng pháp thoại liên quan đến học giới để chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu, con đã khởi lên sự bất mãn, không hài lòng: ‘Vị Sa-môn này quá khắt khe.’ Ta nên đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ta nên thú nhận lỗi lầm đúng như lỗi lầm trước mặt Thế Tôn.’ Bạch Thế Tôn, lỗi lầm đã xâm chiếm con do ngu si, do mê mờ, do bất thiện, bởi vì khi Thế Tôn đang dùng pháp thoại liên quan đến học giới để chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu, con đã khởi lên sự bất mãn, không hài lòng: ‘Vị Sa-môn này quá khắt khe.’ Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy chấp nhận lỗi lầm này của con đúng như lỗi lầm, để con được thu thúc trong tương lai.”
“Thật vậy, này Kassapa, lỗi lầm đã xâm chiếm ngươi do ngu si, do mê mờ, do bất thiện, bởi vì khi ta đang dùng pháp thoại liên quan đến học giới để chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu, ngươi đã khởi lên sự bất mãn, không hài lòng: ‘Vị Sa-môn này quá khắt khe.’ Và bởi vì ngươi, này Kassapa, sau khi thấy lỗi lầm đúng như lỗi lầm, đã sửa chữa đúng theo Pháp, nên chúng ta chấp nhận lỗi lầm đó của ngươi. Này Kassapa, đây là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh: người nào thấy lỗi lầm đúng như lỗi lầm, sửa chữa đúng theo Pháp, và đạt đến sự thu thúc trong tương lai.
Thero cepi, kassapa, bhikkhu hoti na sikkhākāmo na sikkhāsamādānassa vaṇṇavādī, ye caññe bhikkhū na sikkhākāmā te ca na sikkhāya samādapeti, ye caññe bhikkhū sikkhākāmā tesañca na vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena, evarūpassāhaṁ, kassapa, therassa bhikkhuno na vaṇṇaṁ bhaṇāmi. Taṁ kissa hetu? Satthā hissa vaṇṇaṁ bhaṇatīti aññe naṁ bhikkhū bhajeyyuṁ, ye naṁ bhajeyyuṁ tyāssa diṭṭhānugatiṁ āpajjeyyuṁ, yyāssa diṭṭhānugatiṁ āpajjeyyuṁ tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyāti.
Kassapa, take the case of a senior mendicant who doesn’t want to train and doesn’t praise taking up the training. They don’t encourage other mendicants who don’t want to train to take up the training. And they don’t truthfully and correctly praise at the right time those mendicants who do want to train. I don’t praise that kind of senior mendicant. Why is that? Because, hearing that I praised that mendicant, other mendicants might want to keep company with them. Then they might follow their example, which would be for their lasting harm and suffering.
“Này Kassapa, cho dù một Tỳ-khưu là trưởng lão, nhưng không ham muốn học giới, không tán thán việc thực hành học giới, cũng không khích lệ các Tỳ-khưu khác vốn không ham muốn học giới trong việc học giới, và không tán thán đúng sự thật, đúng lúc đối với các Tỳ-khưu khác ham muốn học giới, Ta không tán thán vị Tỳ-khưu trưởng lão như vậy. Vì sao vậy? Vì nếu các Tỳ-khưu khác nghĩ: ‘Bậc Đạo Sư tán thán vị ấy,’ họ sẽ thân cận vị ấy. Những ai thân cận vị ấy sẽ bắt chước theo gương của vị ấy. Đối với những ai bắt chước theo gương của vị ấy, điều đó sẽ dẫn đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. Vì vậy, này Kassapa, Ta không tán thán vị Tỳ-khưu trưởng lão như vậy.
Majjhimo cepi, kassapa, bhikkhu hoti …pe…
navo cepi, kassapa, bhikkhu hoti na sikkhākāmo na sikkhāsamādānassa vaṇṇavādī, ye caññe bhikkhū na sikkhākāmā te ca na sikkhāya samādapeti, ye caññe bhikkhū sikkhākāmā tesañca na vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena, evarūpassāhaṁ, kassapa, navassa bhikkhuno na vaṇṇaṁ bhaṇāmi. Taṁ kissa hetu? Satthā hissa vaṇṇaṁ bhaṇatīti aññe naṁ bhikkhū bhajeyyuṁ, ye naṁ bhajeyyuṁ tyāssa diṭṭhānugatiṁ āpajjeyyuṁ, yyāssa diṭṭhānugatiṁ āpajjeyyuṁ tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyāti. Tasmāhaṁ, kassapa, evarūpassa navassa bhikkhuno na vaṇṇaṁ bhaṇāmi.
Take the case of a middle mendicant who doesn’t want to train …
Take the case of a junior mendicant who doesn’t want to train … That’s why I don’t praise that kind of junior mendicant.
Này Kassapa, cho dù là vị tỳ khưu trung lạp ... cho đến ... Này Kassapa, cho dù là vị tỳ khưu tân tỳ, không muốn học tập, không tán thán sự thọ trì học pháp, và cũng không khuyến khích các vị tỳ khưu khác không muốn học tập trong việc học tập, và cũng không nói lên lời tán dương đúng sự thật, đúng thời đối với các vị tỳ khưu khác muốn học tập, này Kassapa, Ta không tán thán hạng tỳ khưu tân tỳ như vậy. Vì cớ sao? Vì nếu Bậc Đạo Sư tán thán vị ấy, các tỳ khưu khác sẽ thân cận vị ấy. Những vị nào thân cận vị ấy sẽ bắt chước theo việc làm của vị ấy. Đối với những vị bắt chước theo việc làm của vị ấy, điều ấy sẽ đưa đến bất hạnh, khổ đau lâu dài. Vì thế, này Kassapa, Ta không tán thán hạng tỳ khưu tân tỳ như vậy.
Thero cepi, kassapa, bhikkhu hoti sikkhākāmo sikkhāsamādānassa vaṇṇavādī, ye caññe bhikkhū na sikkhākāmā te ca sikkhāya samādapeti, ye caññe bhikkhū sikkhākāmā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena, evarūpassāhaṁ, kassapa, therassa bhikkhuno vaṇṇaṁ bhaṇāmi. Taṁ kissa hetu? Satthā hissa vaṇṇaṁ bhaṇatīti aññe naṁ bhikkhū bhajeyyuṁ, ye naṁ bhajeyyuṁ tyāssa diṭṭhānugatiṁ āpajjeyyuṁ, yyāssa diṭṭhānugatiṁ āpajjeyyuṁ tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyāti. Tasmāhaṁ, kassapa, evarūpassa therassa bhikkhuno vaṇṇaṁ bhaṇāmi.
Kassapa, take the case of a senior mendicant who does want to train and praises taking up the training. They encourage other mendicants who don’t want to train to take up the training. And they truthfully and correctly praise at the right time those mendicants who do want to train. I praise that kind of senior mendicant. Why is that? Because, hearing that I praised that mendicant, other mendicants might want to keep company with them. Then they might follow their example, which would be for their lasting welfare and happiness. That’s why I praise that kind of senior mendicant.
Này Kassapa, cho dù là vị tỳ khưu trưởng lão, muốn học tập, tán thán sự thọ trì học pháp, và khuyến khích các vị tỳ khưu khác không muốn học tập trong việc học tập, và cũng nói lên lời tán dương đúng sự thật, đúng thời đối với các vị tỳ khưu khác muốn học tập, này Kassapa, Ta tán thán hạng tỳ khưu trưởng lão như vậy. Vì cớ sao? Vì nếu Bậc Đạo Sư tán thán vị ấy, các tỳ khưu khác sẽ thân cận vị ấy. Những vị nào thân cận vị ấy sẽ bắt chước theo việc làm của vị ấy. Đối với những vị bắt chước theo việc làm của vị ấy, điều ấy sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài. Vì thế, này Kassapa, Ta tán thán hạng tỳ khưu trưởng lão như vậy.
Majjhimo cepi, kassapa, bhikkhu hoti sikkhākāmo …pe…
navo cepi, kassapa, bhikkhu hoti sikkhākāmo sikkhāsamādānassa vaṇṇavādī, ye caññe bhikkhū na sikkhākāmā te ca sikkhāya samādapeti, ye caññe bhikkhū sikkhākāmā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena, evarūpassāhaṁ, kassapa, navassa bhikkhuno vaṇṇaṁ bhaṇāmi. Taṁ kissa hetu? Satthā hissa vaṇṇaṁ bhaṇatīti aññe naṁ bhikkhū bhajeyyuṁ, ye naṁ bhajeyyuṁ tyāssa diṭṭhānugatiṁ āpajjeyyuṁ, yyāssa diṭṭhānugatiṁ āpajjeyyuṁ tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyāti. Tasmāhaṁ, kassapa, evarūpassa navassa bhikkhuno vaṇṇaṁ bhaṇāmī”ti.
Ekādasamaṁ.
Take the case of a middle mendicant who wants to train …
Take the case of a junior mendicant who wants to train … That’s why I praise that kind of junior mendicant.”
Này Kassapa, cho dù là vị tỳ khưu trung lạp, muốn học tập ... cho đến ... Này Kassapa, cho dù là vị tỳ khưu tân tỳ, muốn học tập, tán thán sự thọ trì học pháp, và khuyến khích các vị tỳ khưu khác không muốn học tập trong việc học tập, và cũng nói lên lời tán dương đúng sự thật, đúng thời đối với các vị tỳ khưu khác muốn học tập, này Kassapa, Ta tán thán hạng tỳ khưu tân tỳ như vậy. Vì cớ sao? Vì nếu Bậc Đạo Sư tán thán vị ấy, các tỳ khưu khác sẽ thân cận vị ấy. Những vị nào thân cận vị ấy sẽ bắt chước theo việc làm của vị ấy. Đối với những vị bắt chước theo việc làm của vị ấy, điều ấy sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài. Vì thế, này Kassapa, Ta tán thán hạng tỳ khưu tân tỳ như vậy. (Kinh) thứ mười một.
Samaṇavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Sa Môn, thứ chín.
Samaṇo gadrabho khettaṁ, vajjiputto ca sekkhakaṁ; Tayo ca sikkhanā vuttā, dve sikkhā saṅkavāya cāti.
Sa Môn, con lừa, thửa ruộng, Vajjiputta và người hữu học; Ba bài kinh về sự học tập đã được thuyết giảng, hai bài kinh về học pháp, và Saṅkava.