- Aṅguttara Nikāya 3.59
- 6. Brāhmaṇavagga
Bản dịch
AN 3.59 — 59.—Jànussoni
Jāṇussoṇisutta
Rồi có Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
—Ai làm lễ tế đàn, thưa Tôn giả Gotama, hay ai làm lễ cúng linh, hay ai có bố thí, cần phải bố thí các vật ấy cho các vị Bà-la-môn có ba minh.
Cho đến như thế nào, này Bà-la-môn, các vị Bà-la-môn diễn tả một Bà-la-môn có ba minh?
Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, vị Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị môt dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh, nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vệ đà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải, và các cổ truyện là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biện tài về thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị Ðại nhân. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-la-môn.
—Thật là khác, này Bà-la-môn, các Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-la-môn. Thật là khác, ba minh trong Luật của bậc Thánh.
—Như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, là ba minh trong giới Luật của bậc Thánh? Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết giảng cho chúng tôi về ba minh trong giới Luật của bậc Thánh.
—Vậy Bà-la-môn hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Bà-la-môn Jànussoni vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp ác, bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú, vị ấy chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời. Nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây.” Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các nét chi tiết. Ðây là minh thứ nhất đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
TTC 3—Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, ngữ, ý, phỉ báng các bậc thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, ngữ, ý, không phỉ báng các bậc thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi thiện, cõi trời, cõi đời này.
Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Ðây là minh thứ hai đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
TTC 4—Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”. Ðây là minh thứ ba đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Ai đầy đủ giới hạnh
Tinh cần và định tĩnh
Với tầm được chinh phục
Nhứt tâm khéo định tĩnh
Ai biết được đời trước
Thấy Thiên giới đọa xứ
Vị ấy là đạo sĩ
Ðoạn sanh, đạt thắng trí
Vị Bà-la-môn nào,
Chứng được ba minh này,
Ta gọi là ba minh
Không như thường được gọi.
Như vậy, này Bà-la-môn, là ba minh trong Luật của bậc Thánh.
—Thật thế, thưa Tôn giả Gotama, là ba minh của các Bà-la-môn! Thật khác, là ba minh trong Luật của bậc Thánh! Và thưa Tôn giả Gotama, người có được ba minh của các Bà-la-môn không sánh bằng một phần mười sáu của vị chứng ba minh trong Luật của bậc Thánh!
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.59
- 6. Brahmins
With Jānussoṇi
9. Kinh Jāṇussoṇi
Atha kho jāṇussoṇi brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ …pe… ekamantaṁ nisinno kho jāṇussoṇi brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“yassassu, bho gotama, yañño vā saddhaṁ vā thālipāko vā deyyadhammaṁ vā, tevijjesu brāhmaṇesu dānaṁ dadeyyā”ti.
“Yathā kathaṁ pana, brāhmaṇa, brāhmaṇā tevijjaṁ paññapentī”ti?
“Idha kho, bho gotama, brāhmaṇo ubhato sujāto hoti mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayoti. Evaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā tevijjaṁ paññapentī”ti.
Then the brahmin Jānussoṇi went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. Seated to one side he said to the Buddha:
“Worthy Gotama, whoever has a sacrifice, an offering of food for ancestors, a dish of milk-rice prepared for an auspicious ceremony, or a gift to give, should give it to the brahmins who have mastered the three Vedic knowledges.”
“But brahmin, how do the brahmins describe a brahmin who is proficient in the three Vedic knowledges?”
“Worthy Gotama, it’s when a brahmin is well born on both his mother’s and father’s side, stemming from a clean vessel, with irrefutable and impeccable genealogy back to the seventh paternal generation. He recites and remembers the hymns, and has mastered the three Vedas, together with their vocabularies and ritual performance, their phonology and word classification, and the testaments as fifth. He knows them word-by-word, and their grammar. He is well versed in cosmology and the marks of a great man. That’s how the brahmins describe a brahmin who is proficient in the three Vedic knowledges.”
60. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Jāṇussoṇi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, … ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jāṇussoṇi bạch với Thế Tôn rằng: “Tôn giả Gotama, nếu có người nào có vật tế lễ, hoặc lễ cúng cho người đã khuất, hoặc cháo nấu trong nồi, hoặc vật phẩm cúng dường, người ấy nên cúng dường cho các Bà-la-môn tam minh.” “Này Bà-la-môn, các Bà-la-môn định nghĩa người có tam minh như thế nào?” “Tôn giả Gotama, ở đây, một Bà-la-môn có huyết thống thuần khiết từ cả hai phía cha và mẹ, có dòng dõi trong sạch cho đến bảy đời tổ phụ, không bị chê bai, không bị chỉ trích về mặt xuất thân. Vị ấy là người học và trì tụng các câu chú, thông suốt ba bộ Vệ-đà cùng với các bộ chú giải, nghi thức, ngữ nguyên, và lịch sử là bộ thứ năm; là người tinh thông văn tự và ngữ pháp, và thành thạo về thế gian luận và tướng của bậc đại nhân. Tôn giả Gotama, như vậy đó là cách các Bà-la-môn định nghĩa người có tam minh.”
“Aññathā kho, brāhmaṇa, brāhmaṇā brāhmaṇaṁ tevijjaṁ paññapenti, aññathā ca pana ariyassa vinaye tevijjo hotī”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bho gotama, ariyassa vinaye tevijjo hoti? Sādhu me bhavaṁ gotamo tathā dhammaṁ desetu yathā ariyassa vinaye tevijjo hotī”ti.
“Tena hi, brāhmaṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho jāṇussoṇi brāhmaṇo bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“Brahmin, a master of three knowledges according to the brahmins is quite different from a master of the three knowledges in the training of the Noble One.”
“But worthy Gotama, how is one a master of the three knowledges in the training of the Noble One? Worthy Gotama, please teach me this.”
“Well then, brahmin, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” Jānussoṇi replied. The Buddha said this:
“Này Bà-la-môn, cách các Bà-la-môn định nghĩa một Bà-la-môn có tam minh là một lẽ, và người có tam minh trong giáo pháp của bậc Thánh lại là một lẽ khác.” “Tôn giả Gotama, vậy người có tam minh trong giáo pháp của bậc Thánh là như thế nào? Lành thay, xin Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho con về cách một người trở thành người có tam minh trong giáo pháp của bậc Thánh.” “Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, thưa Tôn giả.” Bà-la-môn Jāṇussoṇi vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Idha pana, brāhmaṇa, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
“Brahmin, it’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures … enters and remains in the fourth absorption.
Này Bà la môn, ở đây, vị Tỳ khưu ly dục... cho đến... chứng và trú thiền thứ tư.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Ayamassa paṭhamā vijjā adhigatā hoti; avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives, with features and details. This is the first knowledge that they attain. Ignorance is banished and knowledge has arisen; darkness is banished and light has arisen, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời... cho đến... như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các khía cạnh và chi tiết. Đây là minh thứ nhất được vị ấy chứng đắc. Vô minh bị diệt trừ, minh được sanh khởi; bóng tối bị diệt trừ, ánh sáng được sanh khởi, cũng như đối với người sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajānāti. Ayamassa dutiyā vijjā adhigatā hoti; avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and surpasses the human, they understand how sentient beings pass on according to their deeds. This is the second knowledge that they attain. Ignorance is banished and knowledge has arisen; darkness is banished and light has arisen, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, hướng tâm đến trí tuệ về sự sinh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân... cho đến... biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Đây là minh thứ hai được vị ấy chứng đắc. Vô minh bị diệt trừ, minh được sanh khởi; bóng tối bị diệt trừ, ánh sáng được sanh khởi, cũng như đối với người sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Ayamassa tatiyā vijjā adhigatā hoti; avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharatoti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’. Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ This is the third knowledge that they attain. Ignorance is banished and knowledge has arisen; darkness is banished and light has arisen, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, hướng tâm đến Lậu tận minh. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là khổ’... cho đến... ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’; vị ấy biết như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’... cho đến... ‘Đây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt.’ Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm của vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát.’ Vị ấy biết: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Đây là minh thứ ba được vị ấy chứng đắc. Vô minh bị diệt trừ, minh được sanh khởi; bóng tối bị diệt trừ, ánh sáng được sanh khởi, cũng như đối với người sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần.
Yo sīlabbatasampanno, pahitatto samāhito; Cittaṁ yassa vasībhūtaṁ, ekaggaṁ susamāhitaṁ.
One who is perfect in precepts and observances, resolute and serene, whose mind is mastered, unified, serene;
Người nào đầy đủ giới và hạnh, tâm chuyên chú, định tĩnh; người có tâm đã được làm chủ, nhất tâm, khéo định tĩnh.
Pubbenivāsaṁ yo vedī, saggāpāyañca passati; Atho jātikkhayaṁ patto, abhiññāvosito muni.
who knows their past lives, sees heaven and places of loss, and has attained the end of rebirth, such a sage has perfect insight.
Người nào biết được đời trước, thấy được cõi trời và cõi khổ; lại nữa, đã đạt đến sự đoạn tận của sanh, là bậc mâu-ni đã viên mãn với thắng trí.
Etāhi tīhi vijjāhi, tevijjo hoti brāhmaṇo; Tamahaṁ vadāmi tevijjaṁ, nāññaṁ lapitalāpananti.
Because of these three knowledges a brahmin is a master of the three knowledges. That’s who I call a three-knowledge master, and not the other <j>who repeats what they are told.
Với ba minh này, vị ấy là một Bà la môn tam minh. Ta gọi người ấy là người tam minh, chứ không phải người khác chỉ biết nói lặp lại lời nói.
Evaṁ kho, brāhmaṇa, ariyassa vinaye tevijjo hotī”ti.
“Aññathā, bho gotama, brāhmaṇānaṁ tevijjo, aññathā ca pana ariyassa vinaye tevijjo hoti. Imassa ca, bho gotama, ariyassa vinaye tevijjassa brāhmaṇānaṁ tevijjo kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
This, brahmin, is a master of the three knowledges in the training of the Noble One.”
“Worthy Gotama, the master of three knowledges according to the brahmins is quite different from a master of the three knowledges in the training of the Noble One. And, worthy Gotama, a master of three knowledges according to the brahmins is not worth a sixteenth part of a master of the three knowledges in the training of the Noble One.
Này Bà la môn, như vậy, trong giới luật của bậc Thánh, có người tam minh. Thưa Tôn giả Gotama, người tam minh của các Bà la môn là khác, và người tam minh trong giới luật của bậc Thánh là khác. Thưa Tôn giả Gotama, người tam minh của các Bà la môn không bằng một phần mười sáu của người tam minh trong giới luật của bậc Thánh này.
Abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Navamaṁ.
Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama... cho đến... Mong Tôn giả Gotama hãy ghi nhận con là một người cận sự nam đã quy y trọn đời kể từ hôm nay. Phẩm thứ chín.