- Aṅguttara Nikāya 3.60
- 6. Brāhmaṇavagga
Bản dịch
AN 3.60 — Sangàrava
Saṅgāravasutta
—Rồi có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi làm lễ tế đàn và khuyên các người khác làm lễ tế đàn. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, ai làm lễ tế đàn và ai khuyên các người khác làm lễ tế đàn, tất cả đều thực hành con đường đưa đến công đức cho nhiều người, tức là kết quả của tế đàn. Thưa Tôn giả Gotama, ai xuất gia, từ bỏ gia tộc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỉ nhiếp phục một tự ngã của mình, chỉ an tịnh một tự ngã của mình, chỉ làm cho một tự ngã chứng được Niết-bàn. Như vậy, người ấy thực hành con đường đưa đến công đức chỉ có một mình, tức là kết quả của sự xuất gia.
—Vậy này Bà-la-môn, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy như vậy trả lời. Ông nghĩ như thế nào, này Bà-la-môn, ở đây, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy nói như sau: “Ðây là con đường, đây là đạo lộ, nhờ thực hành con đường này, Ta đã thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết. Các người hãy đến! Hãy như vậy thực hành! Các người sẽ thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú”. Như vậy, vị Ðạo sư này thuyết pháp, và các người khác như thật hành trì. Số người như vậy là hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, sự việc là như vậy, thời con đường đưa đến công đức này ảnh hưởng chỉ đến một người hay ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất gia?
—Sự việc này là như vậy, thưa Tôn giả Gotama, con đường đưa đến công đức này là ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất gia.
Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Trong hai con đường, này Bà-la-môn, con đường nào, Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn và lợi ích hơn?
Ðược nói như vậy, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:
—Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.
Lần thứ hai, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy: “Những ai là đáng đảnh lễ, hay những ai là đáng tán thán?” Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: “Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?”
Lần thứ hai, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:
—Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng đảnh lễ và đáng tán thán.
Lần thứ ba, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy: “Những ai là đáng kính lễ, hay những ai là đáng tán thán? “Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: “Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?”
Lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:
—Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.
TTC 3Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau: “Cho đến lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava, được hỏi một câu đúng pháp lại tránh né, không trả lời. Vậy Ta hãy giải tỏa việc này”.
Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Này Bà-la-môn, câu chuyện gì đã khởi lên hôm nay trong cung điện Nhà Vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại?
—Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay, trong cung điện nhà vua, câu chuyện như sau đã khởi lên, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại: “Thuở xưa, các Tỷ-kheo ít hơn, nhưng nhiều hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện. Ngày nay, các Tỷ-kheo nhiều hơn, nhưng ít hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện.” Thưa Tôn giả Gotama, đấy là câu chuyện đã khởi lên hôm nay trong cung điện nhà vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại.
TTC 4—Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông. Thế nào là ba? Thần thông biến hóa, thần thông ký thuyết, thần thông giáo hóa, và Bà-la-môn, thế nào là thần thông biến hóa?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước, không nứt r … (như trên) … liền, ngồi kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên.
TTC 5Và này Bà-la-môn, thế nào là thần thông ký thuyết?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên nhờ tướng: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, nhưng nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, cũng không nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, nhưng sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư; sau khi suy tầm và suy tư liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người không nói lên nhờ tướng, không nói lên nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, không nói lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư, sau khi suy tầm và suy tư. Những thành tựu định không tầm không tứ, với tâm của mình biết rõ tâm của người khác tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông ký thuyết.
TTC 6Và như thế nào, này Bà-la-môn, là thần thông giáo hóa?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như thế này, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú!”. Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông giáo hóa. Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông này.
Trong ba loại thần thông này, Ông có thể chấp nhận loại thần thông nào là hy hữu hơn, thù diệu hơn?
—Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, loại thần thông này: Ở đây có người chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước, không nứt r … (như trên) … liền, ngồi kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa.
Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người nói lên nhờ tướng: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Có người nói lên không nhờ tướng, nhưng nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Có người nói lên không nhờ tướng, cũng không nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, nhưng sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư; sau khi suy tầm và suy tư liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Có người không nói lên nhờ tướng, không nói lên nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, không nói lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư, sau khi suy tầm và suy tư. Những thành tựu định không tầm không tứ, với tâm của mình biết rõ tâm của người khác tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa.
Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như thế này, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú”. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, tôi có thể chấp nhận là hy hữu hơn và thù diệu hơn trong ba loại thần thông.
Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Vấn đề này được Tôn giả Gotama khéo nói như vậy, Chúng tôi thọ trì rằng Tôn giả Gotama có thành tựu cả ba loại thần thông này. Thật vậy, Tôn giả Gotama có thể chứng được nhiều loại thần thông … Thật vậy, Tôn giả Gotama thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Thật vậy, Tôn giả Gotama giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt đến cái này và an trú!”.
TTC 7—Thật vậy, này Bà-la-môn, lời nói của Ông trước như là chống ta, sau xích lại gần ta. Và Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Bà-la-môn, Ta chứng được nhiều loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, … Này Bà-la-môn, ta thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của Ta hướng đến chỗ nào, thời tâm của Ta lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Này Bà-la-môn, Ta có thể giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy. Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt được cái này và an trú!”.
—Thưa Tôn giả Gotama, có một Tỷ-kheo nào khác, cũng thành tựu được ba loại thần thông này, ngoài Tôn giả Gotama?
—Này Bà-la-môn, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn nữa các Tỷ-kheo thành tựu được ba loại thần thông này.
—Nhưng thưa Tôn giả Gotama, nay các Tỳ kheo ấy hiện ở đâu?
—Này Bà-la-môn, trong chúng Tỷ-kheo này.
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.60
- 6. Brahmins
With Saṅgārava
10. Kinh Saṅgārava
Atha kho saṅgāravo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho saṅgāravo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“mayamassu, bho gotama, brāhmaṇā nāma. Yaññaṁ yajāmapi yajāpemapi. Tatra, bho gotama, yo ceva yajati yo ca yajāpeti sabbe te anekasārīrikaṁ puññappaṭipadaṁ paṭipannā honti, yadidaṁ yaññādhikaraṇaṁ. Yo panāyaṁ, bho gotama, yassa vā tassa vā kulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito ekamattānaṁ dameti, ekamattānaṁ sameti, ekamattānaṁ parinibbāpeti, evamassāyaṁ ekasārīrikaṁ puññappaṭipadaṁ paṭipanno hoti, yadidaṁ pabbajjādhikaraṇan”ti.
Then Saṅgārava the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, we who are called brahmins make sacrifices and encourage others to make sacrifices. Now, worthy Gotama, both of these people—the one who sacrifices and the one who encourages others to sacrifice—are doing good for many people on account of that sacrifice. But, worthy Gotama, when someone has gone forth from the lay life to homelessness, they tame, calm, and extinguish themselves alone. That being so, they are doing good for just one person on account of that going forth.”
61. Khi ấy, Bà la môn Saṅgārava đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân mật và đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà la môn Saṅgārava bạch với Thế Tôn: ‘Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi là những người được gọi là Bà la môn. Chúng tôi thực hiện việc cúng tế và cũng khiến người khác thực hiện việc cúng tế. Thưa Tôn giả Gotama, ở đó, người nào cúng tế và người nào khiến người khác cúng tế, tất cả những người ấy đều đã thực hành con đường công đức cho nhiều người, đó là nhân vì sự cúng tế. Nhưng thưa Tôn giả Gotama, người nào, từ bất cứ gia tộc nào, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỉ điều phục một mình mình, chỉ làm an tịnh một mình mình, chỉ làm cho một mình mình được tịch tịnh, như vậy người này đã thực hành con đường công đức cho một người, đó là nhân vì sự xuất gia.’
“Tena hi, brāhmaṇa, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa, idha tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So evamāha: ‘ethāyaṁ maggo ayaṁ paṭipadā yathāpaṭipanno ahaṁ anuttaraṁ brahmacariyogadhaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedemi; etha, tumhepi tathā paṭipajjatha, yathāpaṭipannā tumhepi anuttaraṁ brahmacariyogadhaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti. Iti ayañceva satthā dhammaṁ deseti, pare ca tathatthāya paṭipajjanti, tāni kho pana honti anekānipi satāni anekānipi sahassāni anekānipi satasahassāni.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa,
“Well then, brahmin, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, brahmin? A Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He says, ‘Come, this is the path, this is the practice. Practicing like this, I realized the supreme objective of the spiritual life with my own insight, and I make it known. Please, all of you, practice like this, and you too will realize the supreme objective of the spiritual life, and will live having realized it with your own insight.’ So the Teacher teaches Dhamma, and others practice accordingly, in their hundreds and thousands, and hundreds of thousands.
What do you think, brahmin?
Vậy thì, này Bà la môn, Ta sẽ hỏi lại ông về vấn đề này. Ông hãy trả lời theo như ông nghĩ. Này Bà la môn, ông nghĩ thế nào? Ở đây, một Như Lai sanh ra trong đời, là bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy nói như sau: ‘Hãy đến, đây là con đường, đây là pháp hành mà nhờ thực hành theo đó, Ta đã tự mình với thắng trí chứng ngộ và tuyên bố về mục tiêu vô thượng của đời sống phạm hạnh. Hãy đến, các ông cũng hãy thực hành như vậy, và nhờ thực hành theo đó, các ông cũng sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong mục tiêu vô thượng của đời sống phạm hạnh.’ Như vậy, vị Đạo sư này thuyết giảng Pháp, và những người khác thực hành vì mục tiêu ấy, và họ có đến hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn người.
“Iccāyampi, bho gotama, evaṁ sante anekasārīrikā puññappaṭipadā hoti, yadidaṁ pabbajjādhikaraṇan”ti.
“This being so, worthy Gotama, they are doing good for many people on account of going forth.”
Này Bà la môn, ông nghĩ thế nào? Khi sự việc là như vậy, con đường công đức này là cho một người hay cho nhiều người, tức là nhân vì sự xuất gia? Thưa Tôn giả Gotama, khi sự việc là như vậy, con đường công đức này là cho nhiều người, tức là nhân vì sự xuất gia.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “imāsaṁ te, brāhmaṇa, dvinnaṁ paṭipadānaṁ katamā paṭipadā khamati appatthatarā ca appasamārambhatarā ca mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā cā”ti?
Evaṁ vutte, saṅgāravo brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “seyyathāpi bhavaṁ gotamo bhavaṁ cānando. Ete me pujjā, ete me pāsaṁsā”ti.
When he said this, Venerable Ānanda said to Saṅgārava, “Brahmin, which of these two practices do you believe has fewer obligations and undertakings, yet is more fruitful and beneficial?”
Saṅgārava said to Ānanda, “Those such as the worthies Gotama and Ānanda are honored and praised by me!”
Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với Bà-la-môn Saṅgārava: “Này Bà-la-môn, trong hai con đường thực hành này, ông chấp nhận con đường nào ít bận rộn hơn, ít phiền toái hơn, có kết quả to lớn hơn, và có lợi ích to lớn hơn?” Khi được nói vậy, Bà-la-môn Saṅgārava nói với Tôn giả Ānanda: “Cũng như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ānanda. Những vị này tôi tôn kính, những vị này tôi tán thán.”
Dutiyampi kho āyasmā ānando saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “na kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, evaṁ pucchāmi: ‘ke vā te pujjā ke vā te pāsaṁsā’ti? Evaṁ kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, pucchāmi: ‘imāsaṁ te, brāhmaṇa, dvinnaṁ paṭipadānaṁ katamā paṭipadā khamati appatthatarā ca appasamārambhatarā ca mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā cā’”ti?
Dutiyampi kho saṅgāravo brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “seyyathāpi bhavaṁ gotamo bhavaṁ cānando. Ete me pujjā, ete me pāsaṁsā”ti.
For a second time, Ānanda said to Saṅgārava, “Brahmin, I didn’t ask you who you honor and praise. I asked you which of these two practices do you believe has fewer obligations and undertakings, yet is more fruitful and beneficial?”
For a second time Saṅgārava said to Ānanda, “Those such as the worthies Gotama and Ānanda are honored and praised by me!”
Lần thứ hai, Tôn giả Ānanda nói với Bà-la-môn Saṅgārava: “Này Bà-la-môn, tôi không hỏi ông rằng: ‘Những ai là người ông tôn kính, những ai là người ông tán thán?’ Mà tôi hỏi ông rằng: ‘Này Bà-la-môn, trong hai con đường thực hành này, ông chấp nhận con đường nào ít bận rộn hơn, ít phiền toái hơn, có kết quả to lớn hơn, và có lợi ích to lớn hơn?’” Lần thứ hai, Bà-la-môn Saṅgārava nói với Tôn giả Ānanda: “Cũng như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ānanda. Những vị này tôi tôn kính, những vị này tôi tán thán.”
Tatiyampi kho āyasmā ānando saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “na kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, evaṁ pucchāmi: ‘ke vā te pujjā ke vā te pāsaṁsā’ti? Evaṁ kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, pucchāmi: ‘imāsaṁ te, brāhmaṇa, dvinnaṁ paṭipadānaṁ katamā paṭipadā khamati appatthatarā ca appasamārambhatarā ca mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā cā’”ti?
Tatiyampi kho saṅgāravo brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “seyyathāpi bhavaṁ gotamo bhavaṁ cānando. Ete me pujjā, ete me pāsaṁsā”ti.
For a third time, Ānanda said to Saṅgārava, “Brahmin, I didn’t ask you who you honor and praise. I asked you which of these two practices do you believe has fewer obligations and undertakings, yet is more fruitful and beneficial?”
For a third time Saṅgārava said to Ānanda, “Those such as the worthies Gotama and Ānanda are honored and praised by me!”
Lần thứ ba, Tôn giả Ānanda nói với Bà-la-môn Saṅgārava: “Này Bà-la-môn, tôi không hỏi ông rằng: ‘Những ai là người ông tôn kính, những ai là người ông tán thán?’ Mà tôi hỏi ông rằng: ‘Này Bà-la-môn, trong hai con đường thực hành này, ông chấp nhận con đường nào ít bận rộn hơn, ít phiền toái hơn, có kết quả to lớn hơn, và có lợi ích to lớn hơn?’” Lần thứ ba, Bà-la-môn Saṅgārava nói với Tôn giả Ānanda: “Cũng như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ānanda. Những vị này tôi tôn kính, những vị này tôi tán thán.”
Atha kho bhagavato etadahosi: “yāva tatiyampi kho saṅgāravo brāhmaṇo ānandena sahadhammikaṁ pañhaṁ puṭṭho saṁsādeti no vissajjeti. Yannūnāhaṁ parimoceyyan”ti.
Atha kho bhagavā saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “kā nvajja, brāhmaṇa, rājantepure rājapurisānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ antarākathā udapādī”ti?
“Ayaṁ khvajja, bho gotama, rājantepure rājapurisānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ antarākathā udapādi: ‘pubbe sudaṁ appatarā ceva bhikkhū ahesuṁ bahutarā ca uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassesuṁ; etarahi pana bahutarā ceva bhikkhū appatarā ca uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassentī’ti. Ayaṁ khvajja, bho gotama, rājantepure rājapurisānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ antarākathā udapādī”ti.
Then it occurred to the Buddha, “Though Ānanda asked him a sensible question three times, Saṅgārava falters without answering. Why don’t I give him a way out?”
So the Buddha said to Saṅgārava, “Brahmin, what came up in the conversation among the king’s retinue today, sitting together in the royal compound?”
“Worthy Gotama, this came up: ‘Formerly, it seems, there were fewer mendicants, but more of them displayed superhuman demonstrations of psychic power; while these days, there are more mendicants, but fewer display superhuman demonstrations of psychic power.’ This is what came up in the conversation among the king’s retinue today, while sitting together in the royal compound.”
Bấy giờ, Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: “Đến lần thứ ba mà Bà-la-môn Saṅgārava, khi được Ānanda hỏi một câu hỏi hợp pháp, vẫn lẩn tránh, không trả lời. Ta hãy giải thoát cho họ.” Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Saṅgārava: “Này Bà-la-môn, hôm nay trong cung vua, khi các cận thần của vua đang ngồi họp lại với nhau, câu chuyện gì đã được khởi lên giữa họ?” “Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay trong cung vua, khi các cận thần của vua đang ngồi họp lại với nhau, câu chuyện này đã được khởi lên: ‘Ngày xưa, các vị tỳ khưu thì ít hơn, nhưng nhiều vị đã biểu diễn thần thông phép lạ vượt trên các pháp của con người; còn ngày nay, các vị tỳ khưu thì nhiều hơn, nhưng ít vị biểu diễn thần thông phép lạ vượt trên các pháp của con người.’ Thưa Tôn giả Gotama, đó là câu chuyện đã được khởi lên hôm nay trong cung vua, khi các cận thần của vua đang ngồi họp lại với nhau.”
“Tīṇi kho imāni, brāhmaṇa, pāṭihāriyāni. Katamāni tīṇi? Iddhipāṭihāriyaṁ, ādesanāpāṭihāriyaṁ, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Katamañca, brāhmaṇa, iddhipāṭihāriyaṁ? Idha, brāhmaṇa, ekacco anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti: ‘ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasati parimajjati, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti’. Idaṁ vuccati, brāhmaṇa, iddhipāṭihāriyaṁ.
“Brahmin, there are three kinds of demonstration. What three? A demonstration of psychic power, a demonstration of revealing, and a demonstration of instruction.
And what is the demonstration of psychic power? It’s when someone wields the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful. They control the body as far as the realm of divinity. This is called the demonstration of psychic power.
“Này Bà-la-môn, có ba loại phép lạ này. Ba loại nào? Phép lạ thần thông, phép lạ đoán tâm, và phép lạ giáo huấn. Và này Bà-la-môn, phép lạ thần thông là gì? Ở đây, này Bà-la-môn, có người thể nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau: ‘Từ một người, vị ấy trở thành nhiều người; từ nhiều người, vị ấy trở thành một người; vị ấy hiện ra, biến mất; vị ấy đi xuyên qua tường, qua thành lũy, qua núi không bị cản trở, như đi trong không gian; vị ấy lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất, như ở trong nước; vị ấy đi trên nước không chìm, như đi trên đất liền; vị ấy ngồi kiết-già đi trong không gian, như con chim có cánh; vị ấy dùng tay chạm đến và xoa vuốt mặt trăng và mặt trời này, vốn có đại thần lực và đại oai lực như vậy; vị ấy dùng thân thể để thực thi quyền năng cho đến tận cõi Phạm thiên.’ Này Bà-la-môn, đây được gọi là phép lạ thần thông.
Katamañca, brāhmaṇa, ādesanāpāṭihāriyaṁ? Idha, brāhmaṇa, ekacco nimittena ādisati: ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti. So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
And what is the demonstration of revealing? In one case, someone reveals by means of a sign: ‘This is what you’re thinking, such is your thought, and thus is your state of mind.’ And even if they reveal this many times, it turns out exactly so, not otherwise.
“Và này Bà-la-môn, phép lạ đoán tâm là gì? Ở đây, này Bà-la-môn, có người dựa vào dấu hiệu mà tuyên bố: ‘Tâm của ông là như thế này, tâm của ông là như thế kia, ý nghĩ của ông là như thế nọ.’ Dù vị ấy có tuyên bố nhiều đi nữa, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác được.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco na heva kho nimittena ādisati, api ca kho manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati: ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti. So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
In another case, someone reveals after hearing it from humans or non-humans or deities: ‘This is what you’re thinking, such is your thought, and thus is your state of mind.’ And even if they reveal this many times, it turns out exactly so, not otherwise.
“Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có người không tuyên bố dựa vào dấu hiệu, mà sau khi nghe âm thanh của loài người, phi nhân, hay chư thiên, vị ấy tuyên bố: ‘Tâm của ông là như thế này, tâm của ông là như thế kia, ý nghĩ của ông là như thế nọ.’ Dù vị ấy có tuyên bố nhiều đi nữa, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác được.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco na heva kho nimittena ādisati napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati: ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti. So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco na heva kho nimittena ādisati, napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, napi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati, api ca kho avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti:
In another case, someone reveals by hearing the sound of thought spreading as someone thinks and considers: ‘This is what you’re thinking, such is your thought, and thus is your state of mind.’ And even if they reveal this many times, it turns out exactly so, not otherwise.
In another case, someone comprehends the mind of one who has attained the immersion that’s free of placing the mind and keeping it connected. They understand:
“Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có người không tuyên bố dựa vào dấu hiệu, cũng không tuyên bố sau khi nghe âm thanh của loài người, phi nhân, hay chư thiên, mà là sau khi nghe được âm thanh phát ra từ sự suy tầm của người đang tư duy và quán sát, vị ấy tuyên bố: ‘Tâm của ông là như thế này, tâm của ông là như thế kia, ý nghĩ của ông là như thế nọ.’ Dù vị ấy có tuyên bố nhiều đi nữa, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác được.
“Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có người không tuyên bố dựa vào dấu hiệu, cũng không tuyên bố sau khi nghe âm thanh của loài người, phi nhân, hay chư thiên, cũng không tuyên bố sau khi nghe được âm thanh phát ra từ sự suy tầm của người đang tư duy và quán sát, mà là sau khi dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của một người đã nhập định không tầm không tứ, vị ấy biết rằng: ‘Tùy theo các tâm hành của vị này được sắp đặt, ngay sau tâm này, vị ấy sẽ khởi lên một tầm có tên như thế này.’ Dù vị ấy có tuyên bố nhiều đi nữa, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác được. Này Bà-la-môn, đây được gọi là phép lạ đoán tâm.”
Katamañca, brāhmaṇa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ? Idha, brāhmaṇa, ekacco evamanusāsati: ‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti. Idaṁ vuccati, brāhmaṇa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Imāni kho, brāhmaṇa, tīṇi pāṭihāriyāni. Imesaṁ te, brāhmaṇa, tiṇṇaṁ pāṭihāriyānaṁ katamaṁ pāṭihāriyaṁ khamati abhikkantatarañca paṇītatarañcā”ti?
And what is a demonstration of instruction? It’s when someone instructs others like this: ‘Think like this, not like that. Focus your mind like this, not like that. Give up this, and live having achieved that.’ This is called a demonstration of instruction.
These are the three kinds of demonstration. Of these three kinds of demonstration, which do you consider to be the finest?”
Này Bà-la-môn, giáo hóa thần thông là gì? Này Bà-la-môn, ở đây, có người giáo huấn như sau: ‘Hãy suy tư như thế này, đừng suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, đừng tác ý như thế kia; hãy từ bỏ điều này, hãy thành tựu và an trú trong điều này.’ Này Bà-la-môn, đây được gọi là giáo hóa thần thông. Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông này. Này Bà-la-môn, trong ba loại thần thông này, ông kham nhẫn loại thần thông nào, cho là thù thắng hơn và vi diệu hơn?
“Tatra, bho gotama, yadidaṁ pāṭihāriyaṁ idhekacco anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti …pe… yāva brāhmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti, idaṁ, bho gotama, pāṭihāriyaṁ yova naṁ karoti sova naṁ paṭisaṁvedeti, yova naṁ karoti tasseva taṁ hoti. Idaṁ me, bho gotama, pāṭihāriyaṁ māyāsahadhammarūpaṁ viya khāyati.
“Regarding this, worthy Gotama, a demonstration of psychic power is experienced only by the one who performs it, occurring only to them. This seems to me like an illusion.
Thưa Tôn giả Gotama, trong các loại thần thông ấy, có loại thần thông mà ở đây, có người chứng nghiệm được nhiều loại thần thông khác nhau... cho đến cõi Phạm thiên cũng có thể dùng thân để điều khiển theo ý muốn. Thưa Tôn giả Gotama, loại thần thông này, người nào thực hiện thì người ấy cảm nhận, người nào thực hiện thì chỉ thuộc về người ấy mà thôi. Thưa Tôn giả Gotama, đối với tôi, loại thần thông này dường như có bản chất giống như ảo thuật.
Yampidaṁ, bho gotama, pāṭihāriyaṁ idhekacco nimittena ādisati: ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti, so bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā. Idha pana, bho gotama, ekacco na heva kho nimittena ādisati, api ca kho manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati …pe… napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati …pe… napi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati, api ca kho avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti: ‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amhaṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti, so bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā. Idampi, bho gotama, pāṭihāriyaṁ yova naṁ karoti sova naṁ paṭisaṁvedeti, yova naṁ karoti tasseva taṁ hoti. Idampi me, bho gotama, pāṭihāriyaṁ māyāsahadhammarūpaṁ viya khāyati.
And the demonstration where someone reveals something by means of a sign, or after hearing it from humans, non-humans, or deities, or by hearing the sound of thought spreading as someone thinks and considers, or by comprehending the mind of another, is also experienced only by the one who performs it, occurring only to them. This also seems to me like an illusion.
Thưa Tôn giả Gotama, lại có loại thần thông mà ở đây, có người dựa vào tướng mà nói rõ: ‘Tâm của ông như thế này, tâm của ông như thế kia, ý của ông là như vậy.’ Dù người ấy nói nhiều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Lại nữa, thưa Tôn giả Gotama, ở đây có người không phải dựa vào tướng mà nói rõ, mà là sau khi nghe tiếng của loài người, phi nhân, hay chư thiên rồi nói rõ... Lại nữa, không phải sau khi nghe tiếng của loài người, phi nhân, hay chư thiên rồi nói rõ, mà là sau khi nghe âm thanh phát ra từ sự suy tư, tầm cầu của người đang suy tư, tầm cầu rồi nói rõ... Lại nữa, không phải sau khi nghe âm thanh phát ra từ sự suy tư, tầm cầu của người đang suy tư, tầm cầu rồi nói rõ, mà là với tâm của mình, biết rõ tâm của người đã nhập định vô tầm vô tứ: ‘Các tâm hành của vị này được định hướng như thế nào, thì ngay sau tâm này, vị ấy sẽ khởi lên một tầm có tên như thế này.’ Dù người ấy nói nhiều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Thưa Tôn giả Gotama, loại thần thông này cũng vậy, người nào thực hiện thì người ấy cảm nhận, người nào thực hiện thì chỉ thuộc về người ấy mà thôi. Thưa Tôn giả Gotama, đối với tôi, loại thần thông này cũng dường như có bản chất giống như ảo thuật.
Yañca kho idaṁ, bho gotama, pāṭihāriyaṁ idhekacco evaṁ anusāsati: ‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti. Idameva, bho gotama, pāṭihāriyaṁ khamati imesaṁ tiṇṇaṁ pāṭihāriyānaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
But as to the demonstration where someone instructs others: ‘Think like this, not like that. Focus your mind like this, not like that. Give up this, and live having achieved that.’ I prefer this demonstration, worthy Gotama. It’s the finest of the three kinds of demonstration.
Thưa Tôn giả Gotama, còn loại thần thông mà ở đây, có người giáo huấn như sau: ‘Hãy suy tư như thế này, đừng suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, đừng tác ý như thế kia; hãy từ bỏ điều này, hãy thành tựu và an trú trong điều này.’ Thưa Tôn giả Gotama, chính loại thần thông này là điều tôi kham nhẫn, và trong ba loại thần thông, nó là thù thắng hơn và vi diệu hơn.
Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yāvasubhāsitamidaṁ bhotā gotamena imehi ca mayaṁ tīhi pāṭihāriyehi samannāgataṁ bhavantaṁ gotamaṁ dhārema. Bhavañhi gotamo anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti, bhavañhi gotamo avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti: ‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amuṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti. Bhavañhi gotamo evamanusāsati: ‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’”ti.
It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing, how well this was said by the worthy Gotama. We regard the worthy Gotama as someone who possesses these three kinds of demonstration. For the worthy Gotama wields the many kinds of psychic power … controlling the body as far as the realm of divinity. And Worthy Gotama comprehends the mind of another who has attained the immersion that is free of placing the mind and keeping it connected. He understands: ‘Judging by the way this worthy’s intentions are directed, immediately after this mind state they’ll think this thought.’ And the worthy Gotama instructs others like this: ‘Think like this, not like that. Focus your mind like this, not like that. Give up this, and live having achieved that.’”
Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama đã nói lời thật khéo! Chúng con ghi nhận Tôn giả Gotama là bậc đã thành tựu ba loại thần thông này. Vì Tôn giả Gotama chứng nghiệm được nhiều loại thần thông khác nhau... cho đến cõi Phạm thiên cũng có thể dùng thân để điều khiển theo ý muốn. Vì Tôn giả Gotama với tâm của mình, biết rõ tâm của người đã nhập định vô tầm vô tứ: ‘Các tâm hành của vị này được định hướng như thế nào, thì ngay sau tâm này, vị ấy sẽ khởi lên một tầm có tên như thế này.’ Vì Tôn giả Gotama giáo huấn như sau: ‘Hãy suy tư như thế này, đừng suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, đừng tác ý như thế kia; hãy từ bỏ điều này, hãy thành tựu và an trú trong điều này.’
“Addhā kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, āsajja upanīya vācā bhāsitā; api ca tyāhaṁ byākarissāmi. Ahañhi, brāhmaṇa, anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhomi …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattemi. Ahañhi, brāhmaṇa, avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā, imassa cittassa anantarā amuṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti. Ahañhi, brāhmaṇa, evamanusāsāmi: ‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’”ti.
“Your words are clearly invasive and intrusive, brahmin. Nevertheless, I will answer you. For I do wield the many kinds of psychic power … controlling the body as far as the realm of divinity. And I do comprehend the mind of another individual who has attained the immersion that is free of placing the mind and keeping it connected. I understand: ‘Judging by the way this worthy’s intentions are directed, immediately after this mind state they’ll think this thought.’ And I do instruct others like this: ‘Think like this, not like that. Focus your mind like this, not like that. Give up this, and live having achieved that.’”
Này Bà-la-môn, chắc chắn lời nói này của ông là có ý công kích và so sánh, tuy nhiên Ta sẽ trả lời cho ông. Này Bà-la-môn, Ta chứng nghiệm được nhiều loại thần thông khác nhau... cho đến cõi Phạm thiên cũng có thể dùng thân để điều khiển theo ý muốn. Này Bà-la-môn, Ta với tâm của mình, biết rõ tâm của người đã nhập định vô tầm vô tứ: ‘Các tâm hành của vị này được định hướng như thế nào, thì ngay sau tâm này, vị ấy sẽ khởi lên một tầm có tên như thế này.’ Này Bà-la-môn, Ta giáo huấn như sau: ‘Hãy suy tư như thế này, đừng suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, đừng tác ý như thế kia; hãy từ bỏ điều này, hãy thành tựu và an trú trong điều này.’
“Atthi pana, bho gotama, añño ekabhikkhupi yo imehi tīhi pāṭihāriyehi samannāgato, aññatra bhotā gotamenā”ti?
“Na kho, brāhmaṇa, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova, ye bhikkhū imehi tīhi pāṭihāriyehi samannāgatā”ti.
“Kahaṁ pana, bho gotama, etarahi te bhikkhū viharantī”ti?
“Imasmiṁyeva kho, brāhmaṇa, bhikkhusaṅghe”ti.
“But worthy Gotama, is there even one other mendicant who possesses these three kinds of demonstration, apart from the worthy Gotama?”
“There’s not just one hundred mendicants, brahmin, who possess these three kinds of demonstration, nor two, three, four, or five hundred, but many more than that.”
“But where are these mendicants now staying?”
“Right here, brahmin, in this Saṅgha of mendicants.”
Thưa Tôn giả Gotama, ngoài Tôn giả Gotama ra, có vị Tỳ-khưu nào khác đã thành tựu ba loại thần thông này không? – Này Bà-la-môn, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, mà còn nhiều hơn nữa các vị Tỳ-khưu đã thành tựu ba loại thần thông này. – Thưa Tôn giả Gotama, hiện nay các vị Tỳ-khưu ấy đang ở đâu? – Này Bà-la-môn, ngay trong Tăng chúng này.
“Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dasamaṁ.
“Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng như người ta có thể lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc, cũng vậy, Tôn giả Gotama đã dùng nhiều phương tiện để làm sáng tỏ Giáo pháp. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Mong Tôn giả Gotama ghi nhận con là một người cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Hết kinh thứ mười.
Brāhmaṇavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Bà-la-môn, thứ nhất.
Dve brāhmaṇā caññataro, paribbājakena nibbutaṁ; Palokavaccho tikaṇṇo, soṇi saṅgāravena cāti.
Hai vị Bà-la-môn và một vị khác, vị du sĩ, sự tịch tịnh; sự hoại diệt, Vaccha, Tikaṇṇa, Soṇi, và Saṅgārava.