- Aṅguttara Nikāya 3.58
- 6. Brāhmaṇavagga
Bản dịch
AN 3.58 — Tikanna
Tikaṇṇasutta
Rồi Bà-la-môn Tikanna đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Tikanna, trước mặt Thế Tôn, tán thán các bậc Bà-la-môn có đầy đủ ba minh.
—Phải, này Bà-la-môn, họ là các bậc có ba minh. Phải, các Bà-la-môn có ba minh. Cho đến như thế nào, này Bà-la-môn, các Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-la-môn?
—Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, vị Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh, nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Veda với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và các cổ truyện là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biện tài về thuận thế (tự nhiên học) và tướng của các vị đại nhân. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn diễn tả ba minh các vị Bà-la-môn.
—Thật là khác, này Bà-la-môn, các Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-la-môn. Thật là khác ba minh trong luật của bậc thánh.
—Như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, là ba minh trong giới luật của bậc thánh? Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng tôi về ba minh trong Luật của bậc Thánh.
—Vậy Bà-la-môn hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Bà-la-môn Tikana vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp ác, bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú, vị ấy chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
TTC 3—Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời. Nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây.”
Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các nét chi tiết. Ðây là minh thứ nhất đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
TTC 4—Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, ngữ, ý, phỉ báng các bậc thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, ngữ, ý, không phỉ báng các bậc thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi thiện, cõi trời, cõi đời này.
Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Ðây là minh thứ hai đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
TTC 5—Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”. Ðây là minh thứ ba đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Giới hạnh không cao thấp
Khôn khéo và thiền tịnh,
Với tâm được chinh phục,
Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Bậc trí đoạn mê ám,
Ba minh, diệt tử thần,
Vị ấy được tôn xưng,
Ðại hạnh cho Trời Người,
Bậc “Ðoạn tận tất cả”,
Ðầy đủ cả ba minh
An trú không mê vọng,
Ðức Phật, bậc Giác Ngộ,
Bậc chứng thân tối hậu,
Chúng lễ Gotama.
Ai biết được đời trước,
Thấy Thiên giới, đọa giới,
Vị ấy là đạo sĩ,
Ðoạn sanh, đạt thắng trí
Vị Bà-la-môn nào,
Chứng được ba minh này,
Ta gọi là ba minh
Không như thường được gọi.
Như vậy, này Bà-la-môn, là ba minh trong Luật của bậc Thánh.
—Thật khác, thưa Tôn giả Gotama, là ba minh của các Bà-la-môn! Thật khác là ba minh trong Luật của bậc Thánh! Và thưa Tôn giả Gotama, người có được ba minh của các Bà-la-môn không sánh bằng một phần mười sáu của vị chứng ba minh trong Luật của bậc Thánh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.58
- 6. Brahmins
With Tikaṇṇa
8. Bài kinh Tikaṇṇa
Atha kho tikaṇṇo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ …pe… ekamantaṁ nisinno kho tikaṇṇo brāhmaṇo bhagavato sammukhā tevijjānaṁ sudaṁ brāhmaṇānaṁ vaṇṇaṁ bhāsati: “evampi tevijjā brāhmaṇā, itipi tevijjā brāhmaṇā”ti.
Then Tikaṇṇa the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. Seated to one side, in front of the Buddha, Tikaṇṇa praised the brahmins who were proficient in the three Vedas, “Such are the brahmins, masters of the three Vedic knowledges! Thus are the brahmins, masters of the three Vedic knowledges!”
59. Rồi Bà-la-môn Tikaṇṇa đi đến nơi Thế Tôn; sau khi đến, ... ngồi xuống một bên. Bà-la-môn Tikaṇṇa đang ngồi một bên đã nói lên lời tán thán các vị Bà-la-môn tam minh trước mặt Thế Tôn: “Các vị Bà-la-môn tam minh là như thế này, các vị Bà-la-môn tam minh cũng là như thế này.”
“Yathā kathaṁ pana, brāhmaṇa, brāhmaṇā brāhmaṇaṁ tevijjaṁ paññāpentī”ti?
“Idha, bho gotama, brāhmaṇo ubhato sujāto hoti mātito ca pitito ca, saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā, akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, ajjhāyako, mantadharo, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayoti. Evaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā brāhmaṇaṁ tevijjaṁ paññāpentī”ti.
“But brahmin, how do the brahmins describe a brahmin who is master of the three Vedic knowledges?”
“Worthy Gotama, it’s when a brahmin is well born on both his mother’s and father’s side, stemming from a clean vessel, with irrefutable and impeccable genealogy back to the seventh paternal generation. He recites and remembers the hymns, and has mastered the three Vedas, together with their vocabularies and ritual performance, their phonology and word classification, and the testaments as fifth. He knows them word-by-word, and their grammar. He is well versed in cosmology and the marks of a great man. That’s how the brahmins describe a brahmin who is master of the three Vedic knowledges.”
“Này Bà-la-môn, các vị Bà-la-môn tuyên bố một vị Bà-la-môn là tam minh theo cách nào?” “Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, một vị Bà-la-môn có huyết thống trong sạch cả hai bên, từ mẹ và từ cha, thai tạng thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị chê bai, không bị chỉ trích về phương diện dòng dõi; là người học tập và ghi nhớ các câu thần chú, thông suốt ba tập Vệ-đà, cùng với từ vựng (Nighaṇḍu), nghi thức (Keṭubha), ngữ nguyên (Akkharappabheda), và lịch sử (Itihāsa) là thứ năm; thông thạo văn phạm và ngữ pháp, và không thiếu sót trong thuận thế luận và các tướng của bậc đại nhân. Thưa Tôn giả Gotama, chính theo cách này mà các vị Bà-la-môn tuyên bố một người là tam minh.”
“Aññathā kho, brāhmaṇa, brāhmaṇā brāhmaṇaṁ tevijjaṁ paññāpenti, aññathā ca pana ariyassa vinaye tevijjo hotī”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bho gotama, ariyassa vinaye tevijjo hoti? Sādhu me bhavaṁ gotamo tathā dhammaṁ desetu yathā ariyassa vinaye tevijjo hotī”ti.
“Tena hi, brāhmaṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho tikaṇṇo brāhmaṇo bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“Brahmin, a master of three knowledges according to the brahmins is quite different from a master of the three knowledges in the training of the Noble One.”
“But worthy Gotama, how is one a master of the three knowledges in the training of the Noble One? Worthy Gotama, please teach me this.”
“Well then, brahmin, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” Tikaṇṇa replied. The Buddha said this:
“Này Bà-la-môn, cách các vị Bà-la-môn tuyên bố một vị Bà-la-môn là tam minh là một đằng, và cách một người trở thành tam minh trong giới luật của bậc Thánh lại là một nẻo khác.” “Thưa Tôn giả Gotama, một người trở thành tam minh trong giới luật của bậc Thánh là như thế nào? Lành thay, mong Tôn giả Gotama thuyết Pháp cho con về cách một người trở thành tam minh trong giới luật của bậc Thánh.” “Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, thưa Tôn giả.” Bà-la-môn Tikaṇṇa vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Idha, brāhmaṇa, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
“Brahmin, it’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ With the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
“Này Bà-la-môn, ở đây, một vị Tỳ-khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Do làm lắng dịu tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái không tầm, không tứ, với hỷ và lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm. Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, và cảm nhận lạc bằng thân, chứng và trú thiền thứ ba, một trạng thái mà các bậc Thánh gọi là ‘xả, niệm, lạc trú’. Do đoạn trừ lạc và khổ, và đã chấm dứt hỷ và ưu từ trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattārīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi, anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ. Tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Ayamassa paṭhamā vijjā adhigatā hoti; avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details. This is the first knowledge that they attain. Ignorance is banished and knowledge has arisen; darkness is banished and light has arisen, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
“Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và đạt đến bất động như vậy, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp hoại và thành: ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ như thế. Chết ở nơi đó, ta sanh lại ở chốn nọ. Ở nơi đó, ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ như thế. Chết ở nơi đó, ta sanh lại ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. Đây là minh thứ nhất mà vị ấy đã chứng đắc. Vô minh đã được đoạn trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã bị xua tan, ánh sáng đã xuất hiện, như xảy ra cho người sống không phóng dật, nhiệt tâm, và tinh cần.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā …pe… manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā, vacīsucaritena samannāgatā, manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti. Ayamassa dutiyā vijjā adhigatā hoti; avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds. This is the second knowledge that they attain. Ignorance is banished and knowledge has arisen; darkness is banished and light has arisen, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
“Vị ấy, với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, an trú, bất động như vậy, hướng tâm đến trí tuệ về sự sinh diệt của chúng sanh. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thành tựu thân ác hành, … khẩu ác hành, … ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ tà kiến nghiệp. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ chánh kiến nghiệp. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Đây là minh thứ hai vị ấy đã chứng đắc. Vô minh đã được đoạn trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã được xua tan, ánh sáng đã sanh khởi, cũng như đối với người không dể duôi, tinh cần, quyết tâm an trú.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Ayamassa tatiyā vijjā adhigatā hoti; avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharatoti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’. Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ This is the third knowledge that they attain. Ignorance is banished and knowledge has arisen; darkness is banished, and light has arisen, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
“Vị ấy, với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, an trú, bất động như vậy, hướng tâm đến trí tuệ đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là Khổ’. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là Khổ Tập’. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là Khổ Diệt’. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là Con Đường đưa đến Khổ Diệt’. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm của vị ấy giải thoát khỏi dục lậu, giải thoát khỏi hữu lậu, giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã giải thoát’. Vị ấy biết: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Đây là minh thứ ba vị ấy đã chứng đắc. Vô minh đã được đoạn trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã được xua tan, ánh sáng đã sanh khởi, cũng như đối với người không dể duôi, tinh cần, quyết tâm an trú.”
Anuccāvacasīlassa, nipakassa ca jhāyino; Cittaṁ yassa vasībhūtaṁ, ekaggaṁ susamāhitaṁ.
For someone whose ethical conduct doesn’t waver, who is alert, practicing absorption; whose mind is mastered, unified, serene.
“Người có giới hạnh không cao không thấp, có trí tuệ, và chuyên thiền định; người có tâm đã được làm chủ, nhất tâm, và khéo định tĩnh.”
Taṁ ve tamonudaṁ dhīraṁ, tevijjaṁ maccuhāyinaṁ; Hitaṁ devamanussānaṁ, āhu sabbappahāyinaṁ.
That attentive one dispels the darkness, master of the three knowledges, conqueror of death. For the welfare of gods and humans, he has given up everything, they say.
“Vị ấy, người xua tan bóng tối, bậc kiên định, người có tam minh, đã vượt qua cái chết, người mang lại lợi ích cho chư thiên và loài người, người ta gọi là bậc đã từ bỏ tất cả.”
Tīhi vijjāhi sampannaṁ, asammūḷhavihārinaṁ; Buddhaṁ antimadehinaṁ, taṁ namassanti gotamaṁ.
Accomplished in the three knowledges, living without confusion, bearing the final body, they revere the awakened Gotama.
“Vị ấy, người đầy đủ ba minh, sống không si mê, bậc Giác Ngộ mang thân cuối cùng, vị Gotama ấy, họ đều đảnh lễ.”
Pubbenivāsaṁ yo vedī, saggāpāyañca passati; Atho jātikkhayaṁ patto, abhiññāvosito muni.
One who knows their past lives, sees heaven and places of loss, and has attained the ending of rebirth, a sage of perfect insight—
“Người nào biết được các kiếp quá khứ, thấy được cõi trời và cõi khổ, và lại đạt đến sự đoạn tận của sanh, vị ấy là bậc thánh nhân đã viên mãn với thắng trí.”
Etāhi tīhi vijjāhi, tevijjo hoti brāhmaṇo; Tamahaṁ vadāmi tevijjaṁ, nāññaṁ lapitalāpananti.
it’s because of these three knowledges that a brahmin is a master of the three knowledges. That’s who I call a three-knowledge master, and not the other <j>who repeats what they are told.
“Với ba minh này, vị ấy là một Bà-la-môn tam minh. Ta gọi người ấy là người có tam minh, chứ không phải người khác chỉ biết lặp lại lời nói suông.”
Evaṁ kho, brāhmaṇa, ariyassa vinaye tevijjo hotī”ti.
“Aññathā, bho gotama, brāhmaṇānaṁ tevijjo, aññathā ca pana ariyassa vinaye tevijjo hoti. Imassa ca pana, bho gotama, ariyassa vinaye tevijjassa brāhmaṇānaṁ tevijjo kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
This, brahmin, is a master of the three knowledges in the training of the Noble One.”
“Worthy Gotama, a master of three knowledges according to the brahmins is quite different from a master of the three knowledges in the training of the Noble One. And, worthy Gotama, a master of three knowledges according to the brahmins is not worth a sixteenth part of a master of the three knowledges in the training of the Noble One.
“Này Bà-la-môn, như vậy đó là người có tam minh trong giáo pháp của bậc Thánh.” “Tôn giả Gotama, người có tam minh của các Bà-la-môn là một lẽ, và người có tam minh trong giáo pháp của bậc Thánh lại là một lẽ khác. Tôn giả Gotama, người có tam minh của các Bà-la-môn không đáng một phần mười sáu của người có tam minh trong giáo pháp của bậc Thánh này.”
Abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
“Thật vi diệu, Tôn giả Gotama! … Xin Tôn giả Gotama hãy ghi nhận con là một nam cư sĩ, kể từ hôm nay cho đến trọn đời đã quy y.” Hết kinh thứ tám.