98
“Dveme, bhikkhave, bālā. Katame dve? Yo ca anāgataṁ bhāraṁ vahati, yo ca āgataṁ bhāraṁ na vahati. Ime kho, bhikkhave, dve bālā”ti.
Bản dịch
10. Bālavagga
98—Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người mang gánh nặng chưa đến và người không mang gánh nặng đã đến. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
99Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người mang gánh nặng đã đến và người không mang gánh nặng chưa đến. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
100Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là hợp pháp đối với việc không hợp pháp, và người tưởng là không hợp pháp đối với việc hợp pháp. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
101Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là không hợp pháp đối với việc không hợp pháp, và người tưởng là hợp pháp đối với việc hợp pháp. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
102Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là có phạm tội đối với việc không phạm tội, và người tưởng là không phạm tội đối với việc có phạm tội. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
103Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là không phạm tội đối với việc không phạm tội, và người tưởng là phạm tội đối với việc có phạm tội. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
104Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là đúng pháp đối với việc phi pháp, và người tưởng là phi pháp đối với việc đúng pháp. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
105Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là phi pháp đối với việc phi pháp, và người tưởng là đúng pháp đối với việc đúng pháp. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
106Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là đúng luật đối với việc phi luật, và người tưởng là phi luật đối với việc đúng luật. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
107Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là phi luật đối với việc phi luật, và người tưởng là đúng luật đối với việc đúng luật. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
108Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người lo lắng những việc không đáng lo lắng, và người không lo lắng những việc đáng lo lắng. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
109Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người không lo lắng những việc không đáng lo lắng, và người lo lắng những việc đáng lo lắng. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
110Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng phép đối với việc không đúng phép, và người tưởng là không đúng phép đối với việc đúng phép. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
111Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng phép đối với việc đúng phép, và người tưởng là không đúng phép đối với việc không đúng phép. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
112Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là có phạm tội đối với việc không phạm tội, và người tưởng là không phạm tội đối với việc có phạm tội. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
113Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là có phạm tội đối với việc có phạm tội, và người tưởng là không phạm tội đối với việc không phạm tội. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
114Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng pháp đối với việc phi pháp, và người tưởng là phi pháp đối với việc đúng pháp. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
115Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng pháp đối với việc đúng pháp, và người tưởng là phi pháp đối với việc phi pháp. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
116Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng luật đối với việc phi luật, và người tưởng là phi luật đối với việc đúng luật. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
117Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng luật đối với việc đúng luật, và người tưởng là phi luật đối với việc phi luật. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Dveme, bhikkhave, bālā. Katame dve? Yo ca anāgataṁ bhāraṁ vahati, yo ca āgataṁ bhāraṁ na vahati. Ime kho, bhikkhave, dve bālā”ti.
“Mendicants, there are two fools. What two? One who carries the burden of what has not come to pass, and one who doesn’t carry the burden of what has come to pass. These are the two fools.”
99. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người ngu này. Thế nào là hai? Người gánh vác gánh nặng chưa đến, và người không gánh vác gánh nặng đã đến. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người ngu.
“Dveme, bhikkhave, paṇḍitā. Katame dve? Yo ca anāgataṁ bhāraṁ na vahati, yo ca āgataṁ bhāraṁ vahati. Ime kho, bhikkhave, dve paṇḍitā”ti.
“There are two who are astute. What two? One who doesn’t carry the burden of what has not come to pass, and one who carries the burden of what has come to pass. These are the two who are astute.”
100. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người trí này. Thế nào là hai? Người không gánh vác gánh nặng chưa đến, và người gánh vác gánh nặng đã đến. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người trí.
“Dveme, bhikkhave, bālā. Katame dve? Yo ca akappiye kappiyasaññī, yo ca kappiye akappiyasaññī. Ime kho, bhikkhave, dve bālā”ti.
“Mendicants, there are two fools. What two? One who perceives what is unallowable as allowable, and one who perceives what is allowable as unallowable. These are the two fools.”
101. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người ngu này. Thế nào là hai? Người có tưởng là thích hợp trong cái không thích hợp, và người có tưởng là không thích hợp trong cái thích hợp. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người ngu.
“Dveme, bhikkhave, paṇḍitā. Katame dve? Yo ca akappiye akappiyasaññī, yo ca kappiye kappiyasaññī. Ime kho, bhikkhave, dve paṇḍitā”ti.
“There are two who are astute. What two? One who perceives what is unallowable as unallowable, and one who perceives what is allowable as allowable. These are the two who are astute.”
102. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người trí này. Thế nào là hai? Người có tưởng là không thích hợp trong cái không thích hợp, và người có tưởng là thích hợp trong cái thích hợp. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người trí.
“Dveme, bhikkhave, bālā. Katame dve? Yo ca anāpattiyā āpattisaññī, yo ca āpattiyā anāpattisaññī. Ime kho, bhikkhave, dve bālā”ti.
“Mendicants, there are two fools. What two? One who perceives a non-offense as an offense, and one who perceives an offense as a non-offense. These are the two fools.”
103. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người ngu này. Thế nào là hai? Người có tưởng là có tội trong cái không có tội, và người có tưởng là không có tội trong cái có tội. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người ngu.
“Dveme, bhikkhave, paṇḍitā. Katame dve? Yo ca anāpattiyā anāpattisaññī, yo ca āpattiyā āpattisaññī. Ime kho, bhikkhave, dve paṇḍitā”ti.
“There are two who are astute. What two? One who perceives a non-offense as a non-offense, and one who perceives an offense as an offense. These are the two who are astute.”
104. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người trí này. Thế nào là hai? Người có tưởng là không có tội trong cái không có tội, và người có tưởng là có tội trong cái có tội. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người trí.
“Dveme, bhikkhave, bālā. Katame dve? Yo ca adhamme dhammasaññī, yo ca dhamme adhammasaññī. Ime kho, bhikkhave, dve bālā”ti.
“Mendicants, there are two fools. What two? One who perceives what is not the teaching as the teaching, and one who perceives the teaching as not the teaching. These are the two fools.”
105. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người ngu này. Thế nào là hai? Người có tưởng là pháp trong cái phi pháp, và người có tưởng là phi pháp trong cái là pháp. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người ngu.
“Dveme, bhikkhave, paṇḍitā. Katame dve? Yo ca dhamme dhammasaññī, yo ca adhamme adhammasaññī. Ime kho, bhikkhave, dve paṇḍitā”ti.
“There are two who are astute. What two? One who perceives the teaching as the teaching, and one who perceives what is not the teaching as not the teaching. These are the two who are astute.”
106. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người trí này. Thế nào là hai? Người có tưởng là pháp trong cái là pháp, và người có tưởng là phi pháp trong cái phi pháp. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người trí.
“Dveme, bhikkhave, bālā. Katame dve? Yo ca avinaye vinayasaññī, yo ca vinaye avinayasaññī. Ime kho, bhikkhave, dve bālā”ti.
“Mendicants, there are two fools. What two? One who perceives what is not the training as the training, and one who perceives what is the training as not the training. These are the two fools.”
107. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người ngu này. Thế nào là hai? Người có tưởng là luật trong cái phi luật, và người có tưởng là phi luật trong cái là luật. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người ngu.
“Dveme, bhikkhave, paṇḍitā. Katame dve? Yo ca avinaye avinayasaññī, yo ca vinaye vinayasaññī. Ime kho, bhikkhave, dve paṇḍitā”ti.
“There are two who are astute. What two? One who perceives what is not the training as not the training, and one who perceives what is the training as the training. These are the two who are astute.”
108. Này các Tỳ khưu, có hai hạng người trí này. Thế nào là hai? Người có tưởng là phi luật trong cái phi luật, và người có tưởng là luật trong cái là luật. Này các Tỳ khưu, đây là hai hạng người trí.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca na kukkuccāyitabbaṁ kukkuccāyati, yo ca kukkuccāyitabbaṁ na kukkuccāyati. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements grow. What two? One who is remorseful over something they shouldn’t be, and one who isn’t remorseful over something they should be. These are the two whose defilements grow.”
109. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người hối hận về điều không đáng hối hận, và người không hối hận về điều đáng hối hận. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người này.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā na vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca na kukkuccāyitabbaṁ na kukkuccāyati, yo ca kukkuccāyitabbaṁ kukkuccāyati. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā na vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements don’t grow. What two? One who isn’t remorseful over something they shouldn’t be, and one who is remorseful over something they should be. These are the two whose defilements don’t grow.”
110. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người không hối hận về điều không đáng hối hận, và người hối hận về điều đáng hối hận. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người này.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca akappiye kappiyasaññī, yo ca kappiye akappiyasaññī. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements grow. What two? One who perceives what is unallowable as allowable, and one who perceives what is allowable as unallowable. These are the two whose defilements grow.”
111. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người có tưởng là thích hợp trong cái không thích hợp, và người có tưởng là không thích hợp trong cái thích hợp. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người này.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā na vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca akappiye akappiyasaññī, yo ca kappiye kappiyasaññī. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā na vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements don’t grow. What two? One who perceives what is unallowable as unallowable, and one who perceives what is allowable as allowable. These are the two whose defilements don’t grow.”
112. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người có tưởng là không thích hợp trong cái không thích hợp, và người có tưởng là thích hợp trong cái thích hợp. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người này.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca āpattiyā anāpattisaññī, yo ca anāpattiyā āpattisaññī. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements grow. What two? One who perceives an offense as a non-offense, and one who perceives a non-offense as an offense. These are the two whose defilements grow.”
113. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người có tưởng là không có tội trong cái có tội, và người có tưởng là có tội trong cái không có tội. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người này.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā na vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca āpattiyā āpattisaññī, yo ca anāpattiyā anāpattisaññī. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā na vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements don’t grow. What two? One who perceives an offense as an offense, and one who perceives a non-offense as a non-offense. These are the two whose defilements don’t grow.”
114. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người có tưởng là có tội trong cái có tội, và người có tưởng là không có tội trong cái không có tội. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người này.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca adhamme dhammasaññī, yo ca dhamme adhammasaññī. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements grow. What two? One who perceives what is not the teaching as the teaching, and one who perceives the teaching as not the teaching. These are the two whose defilements grow.”
115. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người có tưởng là pháp trong cái phi pháp, và người có tưởng là phi pháp trong cái là pháp. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người này.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā na vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca dhamme dhammasaññī, yo ca adhamme adhammasaññī. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā na vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements don’t grow. What two? One who perceives the teaching as the teaching, and one who perceives what is not the teaching as not the teaching. These are the two whose defilements don’t grow.”
116. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người có tưởng là pháp trong cái là pháp, và người có tưởng là phi pháp trong cái phi pháp. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người này.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca avinaye vinayasaññī, yo ca vinaye avinayasaññī. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements grow. What two? One who perceives what is not the training as the training, and one who perceives what is the training as not the training. These are the two whose defilements grow.”
117. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người có tưởng là luật trong cái phi luật, và người có tưởng là phi luật trong cái là luật. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc tăng trưởng đối với hai hạng người này.
“Dvinnaṁ, bhikkhave, āsavā na vaḍḍhanti. Katamesaṁ dvinnaṁ? Yo ca avinaye avinayasaññī, yo ca vinaye vinayasaññī. Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ āsavā na vaḍḍhantī”ti.
“For these two, defilements don’t grow. What two? One who perceives what is not the training as not the training, and one who perceives what is the training as the training. These are the two whose defilements don’t grow.”
118. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người. Thế nào là hai? Người có tưởng là phi luật trong cái phi luật, và người có tưởng là luật trong cái là luật. Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc không tăng trưởng đối với hai hạng người này.
Bālavaggo pañcamo.
Phẩm Kẻ Ngu, thứ năm.
Dutiyo paṇṇāsako samatto.
Năm mươi kinh thứ hai đã hoàn tất.