118
“Dvemā, bhikkhave, āsā duppajahā. Katamā dve? Lābhāsā ca jīvitāsā ca. Imā kho, bhikkhave, dve āsā duppajahā”ti.
Bản dịch
11. Āsāduppajahavagga
118—Có hai hy vọng này, này các Tỷ-kheo, khó được từ bỏ. Thế nào là hai? Hy vọng được lợi dưỡng và hy vọng được sống. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai hy vọng khó được từ bỏ.
119Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thi ân trước và người biết nhớ ơn đã làm. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.
120Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thỏa mãn và người làm người khác thỏa mãn. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.
121Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó làm cho thỏa mãn. Thế nào là hai? Người cất chứa các lợi dưỡng và người phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người khó làm cho thỏa mãn.
122Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, dễ làm thỏa mãn. Thế nào là hai? Người không cất chứa các lợi dưỡng và người không phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người dễ làm thỏa mãn ở đời.
123Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tham sanh khởi. Thế nào là hai? Tịnh tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tham sanh khởi.
124Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến sân sanh khởi. Thế nào là hai? Chướng ngại tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến sân sanh khởi.
125Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tà kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tà kiến sanh khởi.
126Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến chánh kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến chánh kiến sanh khởi.
127Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm . Thế nào là hai? Tội phạm nhẹ và tội phạm nặng. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
128Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm. Thế nào là hai? Tội phạm thô trọng và tội phạm không thô trọng. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
129Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm. Thế nào là hai? Tội phạm có dư tàn và tội phạm không có dư tàn. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Dvemā, bhikkhave, āsā duppajahā. Katamā dve? Lābhāsā ca jīvitāsā ca. Imā kho, bhikkhave, dve āsā duppajahā”ti.
“These two hopes are hard to give up. What two? The hope for wealth and the hope for long life. These are two hopes that are hard to give up.”
119. “Này các Tỳ khưu, có hai hy vọng này khó từ bỏ. Thế nào là hai? Hy vọng về lợi lộc và hy vọng về mạng sống. Này các Tỳ khưu, quả thật hai hy vọng này là khó từ bỏ.”
“Dveme, bhikkhave, puggalā dullabhā lokasmiṁ. Katame dve? Yo ca pubbakārī, yo ca kataññū katavedī. Ime kho, bhikkhave, dve puggalā dullabhā lokasmin”ti.
“These two individuals are rare in the world. What two? One who takes the initiative, and one who is grateful and thankful. These are the two individuals who are rare in the world.”
120. “Này các Tỳ khưu, có hai hạng người này khó tìm thấy ở đời. Thế nào là hai? Người làm ơn trước, và người biết ơn, nhớ ơn. Này các Tỳ khưu, quả thật hai hạng người này là khó tìm thấy ở đời.”
“Dveme, bhikkhave, puggalā dullabhā lokasmiṁ. Katame dve? Titto ca tappetā ca. Ime kho, bhikkhave, dve puggalā dullabhā lokasmin”ti.
“These two individuals are rare in the world. What two? One who is satisfied, and one who satisfies others. These are the two individuals who are rare in the world.”
121. “Này các Tỳ khưu, có hai hạng người này khó tìm thấy ở đời. Thế nào là hai? Người biết đủ và người làm cho người khác biết đủ. Này các Tỳ khưu, quả thật hai hạng người này là khó tìm thấy ở đời.”
“Dveme, bhikkhave, puggalā duttappayā. Katame dve? Yo ca laddhaṁ laddhaṁ nikkhipati, yo ca laddhaṁ laddhaṁ vissajjeti. Ime kho, bhikkhave, dve puggalā duttappayā”ti.
“These two individuals are hard to satisfy in the world. What two? One who continually hoards wealth, and one who continually wastes wealth. These are the two individuals who are hard to satisfy in the world.”
122. “Này các Tỳ khưu, có hai hạng người này khó làm cho thỏa mãn. Thế nào là hai? Người nhận được vật gì cũng cất giữ, và người nhận được vật gì cũng cho đi. Này các Tỳ khưu, quả thật hai hạng người này là khó làm cho thỏa mãn.”
“Dveme, bhikkhave, puggalā sutappayā. Katame dve? Yo ca laddhaṁ laddhaṁ na nikkhipati, yo ca laddhaṁ laddhaṁ na vissajjeti. Ime kho, bhikkhave, dve puggalā sutappayā”ti.
“These two individuals are easy to satisfy in the world. What two? One who does not continually hoard wealth, and one who does not continually waste wealth. These are the two individuals who are easy to satisfy in the world.”
123. “Này các Tỳ khưu, có hai hạng người này dễ làm cho thỏa mãn. Thế nào là hai? Người nhận được vật gì cũng không cất giữ, và người nhận được vật gì cũng không cho đi. Này các Tỳ khưu, quả thật hai hạng người này là dễ làm cho thỏa mãn.”
“Dveme, bhikkhave, paccayā rāgassa uppādāya. Katame dve? Subhanimittañca ayoniso ca manasikāro. Ime kho, bhikkhave, dve paccayā rāgassa uppādāyā”ti.
“There are two conditions for the arising of greed. What two? The feature of beauty and irrational application of mind. These are the two conditions for the arising of greed.”
124. “Này các Tỳ khưu, có hai duyên này cho tham ái sanh khởi. Thế nào là hai? Tịnh tướng và tác ý không như lý. Này các Tỳ khưu, quả thật hai duyên này là cho tham ái sanh khởi.”
“Dveme, bhikkhave, paccayā dosassa uppādāya. Katame dve? Paṭighanimittañca ayoniso ca manasikāro. Ime kho, bhikkhave, dve paccayā dosassa uppādāyā”ti.
“There are two conditions for the arising of hate. What two? The feature of harshness and irrational application of mind. These are the two conditions for the arising of hate.”
125. “Này các Tỳ khưu, có hai duyên này cho sân hận sanh khởi. Thế nào là hai? Chướng ngại tướng và tác ý không như lý. Này các Tỳ khưu, quả thật hai duyên này là cho sân hận sanh khởi.”
“Dveme, bhikkhave, paccayā micchādiṭṭhiyā uppādāya. Katame dve? Parato ca ghoso ayoniso ca manasikāro. Ime kho, bhikkhave, dve paccayā micchādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
“There are two conditions for the arising of wrong view. What two? The voice of another and irrational application of mind. These are the two conditions for the arising of wrong view.”
126. “Này các Tỳ khưu, có hai duyên này cho tà kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói từ người khác và tác ý không như lý. Này các Tỳ khưu, quả thật hai duyên này là cho tà kiến sanh khởi.”
“Dveme, bhikkhave, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāya. Katame dve? Parato ca ghoso, yoniso ca manasikāro. Ime kho, bhikkhave, dve paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
“There are two conditions for the arising of right view. What two? The voice of another and rational application of mind. These are the two conditions for the arising of right view.”
127. “Này các Tỳ khưu, có hai duyên này cho chánh kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói từ người khác và tác ý như lý. Này các Tỳ khưu, quả thật hai duyên này là cho chánh kiến sanh khởi.”
“Dvemā, bhikkhave, āpattiyo. Katamā dve? Lahukā ca āpatti, garukā ca āpatti. Imā kho, bhikkhave, dve āpattiyo”ti.
“There are these two offenses. What two? A light offense and a serious offense. These are the two offenses.”
128. “Này các Tỳ khưu, có hai loại tội phạm này. Thế nào là hai? Tội nhẹ và tội nặng. Này các Tỳ khưu, quả thật có hai loại tội phạm này.”
“Dvemā, bhikkhave, āpattiyo. Katamā dve? Duṭṭhullā ca āpatti, aduṭṭhullā ca āpatti. Imā kho, bhikkhave, dve āpattiyo”ti.
“There are these two offenses. What two? An offense with corrupt intention and an offense without corrupt intention. These are the two offenses.”
129. “Này các Tỳ khưu, có hai loại tội phạm này. Thế nào là hai? Tội thô và tội không thô. Này các Tỳ khưu, quả thật có hai loại tội phạm này.”
“Dvemā, bhikkhave, āpattiyo. Katamā dve? Sāvasesā ca āpatti, anavasesā ca āpatti. Imā kho, bhikkhave, dve āpattiyo”ti.
“There are these two offenses. What two? An offense requiring rehabilitation and an offense not requiring rehabilitation. These are the two offenses.”
130. “Này các Tỳ khưu, có hai loại tội phạm này. Thế nào là hai? Tội có thể cứu chữa và tội không thể cứu chữa. Này các Tỳ khưu, quả thật có hai loại tội phạm này.”
Āsāduppajahavaggo paṭhamo.
Phẩm Về Các Hy Vọng Khó Từ Bỏ, thứ nhất.