130
“Saddho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya: ‘tādiso homi yādisā sāriputtamoggallānā’ti. Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ yadidaṁ sāriputtamoggallānā”ti.
Bản dịch
12. Āyācanavagga
130—Tỷ-kheo có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như Sàriputta và Moggallàna”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tức là Sàriputta và Moggallàna.
131Tỷ-kheo-ni có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppalavannà”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, tức là Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppalavannà.
132Cư sĩ có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như gia chủ Citta và Hatthaka ở Alavì”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử cư sĩ của Ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka ở Alavì.
133Nữ cư sĩ có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà, mẹ của Nanda”. Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử nữ cư sĩ của Ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà, mẹ của Nanda.
134Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào là hai? Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không đáng được tán thán, và chỉ trích người xứng đáng được tán thán. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật bị mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước.
Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tán thán người đáng được tán thán, và chỉ trích người đáng bị chỉ trích. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức.
135Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào là hai? Không có suy tư, không có thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng, và tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước.
Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với các chỗ không đáng tin tưởng, và tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức.
136Do tà hạnh đối với hai (hạng người) kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước. Ðối với hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do tà hạnh đối với hai (hạng người) này kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước.
Do chánh hạnh đối với hai (hạng người), bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức. Ðối với hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do chánh hạnh đối với hai (hạng người) này, bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức.
137Do tà hạnh đối với hai (hạng người) kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước. Ðối với hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của Như Lai. Do tà hạnh đối với hai hạng người này, kẻ ngu, vụng về … nhiều vô phước.
Do chánh hạnh đối với hai (hạng người), bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức. Ðối với hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của Như Lai. Do chánh hạnh đối với hai (hạng người) này, bậc hiền trí … tạo nên nhiều phước đức.
138Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Thanh tịnh tự tâm và không chấp thủ một cái gì ở đời. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
139Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
140Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Nhiếp phục phẫn nộ và nhiếp phục hiềm hận. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Saddho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya: ‘tādiso homi yādisā sāriputtamoggallānā’ti. Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ yadidaṁ sāriputtamoggallānā”ti.
“A faithful monk would rightly aspire: ‘May I be like Sāriputta and Moggallāna!’ These are a standard and a measure for my monk disciples, that is, Sāriputta and Moggallāna.”
131. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có lòng tin, nếu mong cầu một cách chân chánh, nên mong cầu rằng: ‘Mong sao ta được như các ngài Sāriputta và Moggallāna’. Này các Tỳ khưu, đây là cái cân, đây là thước đo cho các đệ tử Tỳ khưu của ta, tức là Sāriputta và Moggallāna.”
“Saddhā, bhikkhave, bhikkhunī evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya: ‘tādisī homi yādisī khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cā’ti. Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ bhikkhunīnaṁ yadidaṁ khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cā”ti.
“A faithful nun would rightly aspire: ‘May I be like the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā!’ These are a standard and a measure for my nun disciples, that is, the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā.”
132. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ni có lòng tin, nếu mong cầu một cách chân chánh, nên mong cầu rằng: ‘Mong sao ta được như Tỳ khưu ni Khemā và Uppalavaṇṇā’. Này các Tỳ khưu, đây là cái cân, đây là thước đo cho các nữ đệ tử Tỳ khưu ni của ta, tức là Tỳ khưu ni Khemā và Uppalavaṇṇā.”
“Saddho, bhikkhave, upāsako evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya: ‘tādiso homi yādiso citto ca gahapati hatthako ca āḷavako’ti. Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ upāsakānaṁ yadidaṁ citto ca gahapati hatthako ca āḷavako”ti.
“A faithful layman would rightly aspire: ‘May I be like the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī!’ These are a standard and a measure for my male lay followers, that is, the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī.”
133. “Này các Tỳ khưu, nam cư sĩ có lòng tin, nếu mong cầu một cách chân chánh, nên mong cầu rằng: ‘Mong sao ta được như gia chủ Citta và Hatthaka Āḷavaka’. Này các Tỳ khưu, đây là cái cân, đây là thước đo cho các đệ tử nam cư sĩ của ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka Āḷavaka.”
“Saddhā, bhikkhave, upāsikā evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya: ‘tādisī homi yādisī khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā’ti. Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ upāsikānaṁ yadidaṁ khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā”ti.
“A faithful laywoman would rightly aspire: ‘May I be like the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother!’ These are a standard and a measure for my female lay disciples, that is, the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother.”
134. “Này các Tỳ khưu, nữ cư sĩ có lòng tin, nếu mong cầu một cách chân chánh, nên mong cầu rằng: ‘Mong sao ta được như nữ cư sĩ Khujjuttarā và Nandamātā ở Veḷukaṇḍakī’. Này các Tỳ khưu, đây là cái cân, đây là thước đo cho các nữ đệ tử cư sĩ của ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarā và Nandamātā ở Veḷukaṇḍakī.”
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati. Katamehi dvīhi? Ananuvicca apariyogāhetvā avaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati, ananuvicca apariyogāhetvā vaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
“When a foolish, incompetent untrue person has two qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness. What two? Without examining or scrutinizing, they praise those deserving of criticism and they criticize those deserving of praise. When a foolish, incompetent untrue person possesses these two qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
135. “Này các Tỳ khưu, người ngu, không khéo léo, không phải bậc chân nhân, thành tựu hai pháp, mang theo tự ngã bị tổn thương, bị hủy hoại, có lỗi, bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều bất thiện. Thế nào là hai? Không điều tra, không thẩm sát, lại nói lời tán thán người không đáng tán thán; không điều tra, không thẩm sát, lại nói lời chê bai người đáng tán thán. Này các Tỳ khưu, quả thật người ngu, không khéo léo, không phải bậc chân nhân, thành tựu hai pháp này, mang theo tự ngã bị tổn thương, bị hủy hoại, có lỗi, bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều bất thiện.”
Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati. Katamehi dvīhi? Anuvicca pariyogāhetvā avaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati, anuvicca pariyogāhetvā vaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
When an astute, competent true person has two qualities they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit. What two? After examining and scrutinizing, they criticize those deserving of criticism and they praise those deserving of praise. When an astute, competent true person possesses these two qualities they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.”
“Này các Tỳ khưu, bậc trí, khéo léo, bậc chân nhân, thành tựu hai pháp, mang theo tự ngã không bị tổn thương, không bị hủy hoại, không có lỗi, không bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều thiện. Thế nào là hai? Sau khi điều tra, sau khi thẩm sát, nói lời chê bai người đáng bị chê bai; sau khi điều tra, sau khi thẩm sát, nói lời tán thán người đáng được tán thán. Này các Tỳ khưu, quả thật bậc trí, khéo léo, bậc chân nhân, thành tựu hai pháp này, mang theo tự ngã không bị tổn thương, không bị hủy hoại, không có lỗi, không bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều thiện.”
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati. Katamehi dvīhi? Ananuvicca apariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti, ananuvicca apariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
“When a foolish, incompetent untrue person has two qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness. What two? Without examining or scrutinizing, they arouse faith in things that are dubious, and they don’t arouse faith in things that are inspiring. When a foolish, incompetent untrue person possesses these two qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
136. Này các Tỳ khưu, người ngu, không thông thạo, không phải bậc chân nhân, do thành tựu hai pháp, tự mình bị tổn thương, bị hủy hoại, đáng bị chê trách, bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều vô phước. Hai pháp nào? Không thẩm xét, không thẩm tra, lại tỏ lòng tịnh tín ở chỗ không đáng tịnh tín; không thẩm xét, không thẩm tra, lại tỏ lòng không tịnh tín ở chỗ đáng tịnh tín. Này các Tỳ khưu, chính do hai pháp này mà người ngu, không thông thạo, không phải bậc chân nhân, tự mình bị tổn thương, bị hủy hoại, đáng bị chê trách, bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều vô phước.
Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati. Katamehi dvīhi? Anuvicca pariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti, anuvicca pariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
When an astute, competent true person has two qualities they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit. What two? After examining or scrutinizing, they don’t arouse faith in things that are dubious, and they do arouse faith in things that are inspiring. When an astute, competent true person possesses these two qualities they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.”
Này các Tỳ khưu, người trí, thông thạo, là bậc chân nhân, do thành tựu hai pháp, tự mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại, không đáng bị chê trách, không bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều phước thiện. Hai pháp nào? Sau khi thẩm xét, sau khi thẩm tra, lại tỏ lòng không tịnh tín ở chỗ không đáng tịnh tín; sau khi thẩm xét, sau khi thẩm tra, lại tỏ lòng tịnh tín ở chỗ đáng tịnh tín. Này các Tỳ khưu, chính do hai pháp này mà người trí, thông thạo, là bậc chân nhân, tự mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại, không đáng bị chê trách, không bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều phước thiện.
“Dvīsu, bhikkhave, micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati. Katamesu dvīsu? Mātari ca pitari ca. Imesu kho, bhikkhave, dvīsu micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
“When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward two people they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness. What two? Mother and father. When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward these two people they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
137. Này các Tỳ khưu, do hành xử sai trái đối với hai hạng người, người ngu, không thông thạo, không phải bậc chân nhân, tự mình bị tổn thương, bị hủy hoại, đáng bị chê trách, bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều vô phước. Hai hạng người nào? Mẹ và cha. Này các Tỳ khưu, chính do hành xử sai trái đối với hai hạng người này mà người ngu, không thông thạo, không phải bậc chân nhân, tự mình bị tổn thương, bị hủy hoại, đáng bị chê trách, bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều vô phước.
Dvīsu, bhikkhave, sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati. Katamesu dvīsu? Mātari ca pitari ca. Imesu kho, bhikkhave, dvīsu sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
When an astute, competent true person acts rightly toward two people they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit. What two? Mother and father. When an astute, competent true person acts rightly toward these two people they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.”
Này các Tỳ khưu, do hành xử đúng đắn đối với hai hạng người, người trí, thông thạo, là bậc chân nhân, tự mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại, không đáng bị chê trách, không bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều phước thiện. Hai hạng người nào? Mẹ và cha. Này các Tỳ khưu, chính do hành xử đúng đắn đối với hai hạng người này mà người trí, thông thạo, là bậc chân nhân, tự mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại, không đáng bị chê trách, không bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều phước thiện.
“Dvīsu, bhikkhave, micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati. Katamesu dvīsu? Tathāgate ca tathāgatasāvake ca. Imesu kho, bhikkhave, micchāpaṭipajjamāno bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatīti.
“When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward two people they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness. What two? The Realized One and a disciple of the Realized One. When a foolish, incompetent untrue person acts wrongly toward these people they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
138. Này các Tỳ khưu, do hành xử sai trái đối với hai hạng người, người ngu, không thông thạo, không phải bậc chân nhân, tự mình bị tổn thương, bị hủy hoại, đáng bị chê trách, bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều vô phước. Hai hạng người nào? Như Lai và đệ tử của Như Lai. Này các Tỳ khưu, chính do hành xử sai trái đối với hai hạng người này mà người ngu, không thông thạo, không phải bậc chân nhân, tự mình bị tổn thương, bị hủy hoại, đáng bị chê trách, bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều vô phước.
Dvīsu, bhikkhave, sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati. Katamesu dvīsu? Tathāgate ca tathāgatasāvake ca. Imesu kho, bhikkhave, dvīsu sammāpaṭipajjamāno paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavatī”ti.
When an astute, competent true person acts rightly toward two people they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit. What two? The Realized One and a disciple of the Realized One. When an astute, competent true person acts rightly toward these two people they keep themselves healthy and whole. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit.”
Này các Tỳ khưu, do hành xử đúng đắn đối với hai hạng người, người trí, thông thạo, là bậc chân nhân, tự mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại, không đáng bị chê trách, không bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều phước thiện. Hai hạng người nào? Như Lai và đệ tử của Như Lai. Này các Tỳ khưu, chính do hành xử đúng đắn đối với hai hạng người này mà người trí, thông thạo, là bậc chân nhân, tự mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại, không đáng bị chê trách, không bị người trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều phước thiện.
“Dveme, bhikkhave, dhammā. Katame dve? Sacittavodānañca na ca kiñci loke upādiyati. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
“There are these two things. What two? Cleaning your own mind, and not grasping at anything in the world. These are the two things.”
139. Này các Tỳ khưu, có hai pháp này. Hai pháp nào? Sự thanh lọc tâm của mình và không chấp thủ bất cứ điều gì ở đời. Này các Tỳ khưu, chính là hai pháp này.
“Dveme, bhikkhave, dhammā. Katame dve? Kodho ca upanāho ca. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
“There are these two things. What two? Anger and acrimony. These are the two things.”
140. Này các Tỳ khưu, có hai pháp này. Hai pháp nào? Phẫn nộ và oán hận. Này các Tỳ khưu, chính là hai pháp này.
“Dveme, bhikkhave, dhammā. Katame dve? Kodhavinayo ca upanāhavinayo ca. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
“There are these two things. What two? Dispelling anger and dispelling acrimony. These are the two things.”
141. Này các Tỳ khưu, có hai pháp này. Hai pháp nào? Sự điều phục phẫn nộ và sự điều phục oán hận. Này các Tỳ khưu, chính là hai pháp này.
Āyācanavaggo dutiyo.
Phẩm Thỉnh Cầu, thứ hai.