- Aṅguttara Nikāya 11.20
- 2. Anussativagga
Bản dịch
AN 11.20 — Thiền Ðịnh (3)
Tatiyasamādhisutta
TTC 1Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Sàriputta… (như kinh số 7, chương mười pháp, chỉ khác đây là Tôn giả Sàriputta).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 11.20
- 2. Recollection
Immersion (3rd)
10. Kinh Định Thứ Ba
Atha kho sambahulā bhikkhū yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavocuṁ:
And then several mendicants went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him:
20. Rồi một số đông các tỳ khưu đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, họ đã cùng Tôn giả Sāriputta chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy đã nói điều này với Tôn giả Sāriputta:
“Siyā nu kho, āvuso sāriputta, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti?
“Siyā, āvuso, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti.
“Could it be, reverend, that a mendicant might gain a state of immersion like this? They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
“It could be, reverends.”
“Này hiền giả Sāriputta, có thể nào có trường hợp một vị tỳ khưu chứng đắc được loại định như vậy, mà ở đó vị ấy không có tưởng về đất ở trong đất, ... cho đến ... và cũng không có tưởng ở trong đối tượng đã được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét; tuy nhiên, vị ấy vẫn là người có tưởng hay không?” “Này các hiền giả, có thể có trường hợp một vị tỳ khưu chứng đắc được loại định như vậy, mà ở đó vị ấy không có tưởng về đất ở trong đất, ... cho đến ... và cũng không có tưởng ở trong đối tượng đã được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét; tuy nhiên, vị ấy vẫn là người có tưởng.”
“Yathā kathaṁ pana, āvuso sāriputta, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti?
“But how could this be?”
“Này hiền giả Sāriputta, nhưng làm thế nào để một vị tỳ khưu có thể chứng đắc được loại định như vậy, mà ở đó vị ấy không có tưởng về đất ở trong đất, ... cho đến ... và cũng không có tưởng ở trong đối tượng đã được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét; tuy nhiên, vị ấy vẫn là người có tưởng?”
“Idha, āvuso, bhikkhu evaṁsaññī hoti: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ, yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti. Evaṁ kho, āvuso, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti.
Dasamaṁ.
“It’s when a mendicant perceives: ‘This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’ That’s how a mendicant might gain a state of immersion like this. They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
“Này các hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu có tưởng như sau: ‘Đây là tịch tịnh, đây là vi diệu, chính là sự an tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết Bàn.’ Này các hiền giả, chính là như vậy mà một vị tỳ khưu có thể chứng đắc được loại định như vậy, mà ở đó vị ấy không có tưởng về đất ở trong đất, ... cho đến ... và cũng không có tưởng ở trong đối tượng đã được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét; tuy nhiên, vị ấy vẫn là người có tưởng.” (Kinh thứ mười).