- Aṅguttara Nikāya 11.19
- 2. Anussativagga
Bản dịch
AN 11.19 — Thiền Ðịnh (2)
Dutiyasamādhisutta
TTC 1Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, có thể chăng một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, có thể không tưởng đến nước; trong lửa, có thể không tưởng đến lửa; trong gió, có thể không tưởng đến gió; trong Không vô biên xứ, có thể không tưởng đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, có thể không tưởng đến Thức vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, có thể không tưởng đến Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, có thể không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế giới hiện tại, có thể không tưởng đến thế giới hiện tại; trong thế giới đời sau, có thể không tưởng đến thế giới đời sau. Phàm cái gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý suy tư. Tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng?
TTC 2Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất…; được ý suy tư. Tại đấy, vị ấy không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng.
—Như thế nào, bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất…; được ý suy tư. Tại đấy, vị ấy không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo,. Tỷ-kheo tưởng như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, không tưởng đến nước…; được ý suy tư, tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 11.19
- 2. Recollection
Immersion (2nd)
9. Kinh Định Thứ Hai
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
19. Khi ấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu.’ ‘Bạch Thế Tôn,’ các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Siyā nu kho, bhikkhave, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa …pe… na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa, yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Could it be, mendicants, that a mendicant might gain a state of immersion like this? They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Này các tỳ khưu, có thể nào có trường hợp một vị tỳ khưu chứng đắc được loại định như vậy, mà ở đó vị ấy không có tưởng về đất ở trong đất, không có tưởng về nước ở trong nước, ... cho đến ... không có tưởng về Vô Sở Hữu Xứ ở trong Vô Sở Hữu Xứ, không có tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không có tưởng về thế gian này ở trong thế gian này, không có tưởng về thế gian khác ở trong thế gian khác, và cũng không có tưởng ở trong đối tượng đã được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét; tuy nhiên, vị ấy vẫn là người có tưởng hay không?” “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con có Thế Tôn là cội rễ, có Thế Tôn là người dẫn dắt, có Thế Tôn là nơi nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy soi sáng ý nghĩa của lời dạy này. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các tỳ khưu sẽ ghi nhớ.”
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
“Này các tỳ khưu, nếu vậy, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói.” “Dạ vâng, bạch Thế Tôn.” Các tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Siyā, bhikkhave, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti.
“A mendicant could gain such a state of immersion.”
“Này các tỳ khưu, có thể có trường hợp một vị tỳ khưu chứng đắc được loại định như vậy, mà ở đó vị ấy không có tưởng về đất ở trong đất, ... cho đến ... và cũng không có tưởng ở trong đối tượng đã được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét; tuy nhiên, vị ấy vẫn là người có tưởng.”
“Yathā kathaṁ pana, bhante, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti?
“But how could this be?”
“Bạch Thế Tôn, nhưng làm thế nào để một vị tỳ khưu có thể chứng đắc được loại định như vậy, mà ở đó vị ấy không có tưởng về đất ở trong đất, ... cho đến ... và cũng không có tưởng ở trong đối tượng đã được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét; tuy nhiên, vị ấy vẫn là người có tưởng?”
“Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁsaññī hoti: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ, yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti. Evaṁ kho, bhikkhave, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti.
Navamaṁ.
“It’s when a mendicant perceives: ‘This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’ That’s how a mendicant might gain a state of immersion like this. They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
“Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có tưởng như sau: ‘Đây là tịch tịnh, đây là vi diệu, chính là sự an tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết Bàn.’ Này các tỳ khưu, chính là như vậy mà một vị tỳ khưu có thể chứng đắc được loại định như vậy, mà ở đó vị ấy không có tưởng về đất ở trong đất, ... cho đến ... và cũng không có tưởng ở trong đối tượng đã được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét; tuy nhiên, vị ấy vẫn là người có tưởng.” (Kinh thứ chín).