- Aṅguttara Nikāya 11.2
- 1. Nissayavagga
Bản dịch
AN 11.2 — Nghĩ Với Dụng Ý
Cetanākaraṇīyasutta
(Giống như kinh số 2, Chương Mười Pháp, chỉ khác “nibbidà viràgatthà”, nhàm chán ly tham, chia 2 nên thành 11 pháp)
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 11.2
- 1. Dependence
Making a Wish
2. Kinh Tác Ý
“Sīlavato, bhikkhave, sīlasampannassa na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘avippaṭisāro me uppajjatū’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ sīlavato sīlasampannassa avippaṭisāro uppajjati.
“Mendicants, an ethical person, who has fulfilled ethical conduct, need not make a wish: ‘May I have no regrets!’ It’s only natural that an ethical person has no regrets.
2. “Này các Tỳ khưu, người có giới, người đầy đủ giới, không cần phải tác ý: ‘Mong rằng sự không hối tiếc sẽ khởi lên trong tôi.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng sự không hối tiếc khởi lên nơi người có giới, người đầy đủ giới.”
Avippaṭisārissa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘pāmojjaṁ me uppajjatū’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ avippaṭisārissa pāmojjaṁ uppajjati.
When you have no regrets you need not make a wish: ‘May I feel joy!’ It’s only natural that joy springs up when you have no regrets.
“Này các Tỳ khưu, người không hối tiếc không cần phải tác ý: ‘Mong rằng sự hân hoan sẽ khởi lên trong tôi.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng sự hân hoan khởi lên nơi người không hối tiếc.”
Pamuditassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘pīti me uppajjatū’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ pamuditassa pīti uppajjati.
When you feel joy you need not make a wish: ‘May I experience rapture!’ It’s only natural that rapture arises when you’re joyful.
“Này các Tỳ khưu, người hân hoan không cần phải tác ý: ‘Mong rằng hỷ sẽ khởi lên trong tôi.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng hỷ khởi lên nơi người hân hoan.”
Pītimanassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘kāyo me passambhatū’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ pītimanassa kāyo passambhati.
When your mind is full of rapture you need not make a wish: ‘May my body become tranquil!’ It’s only natural that your body becomes tranquil when your mind is full of rapture.
“Này các Tỳ khưu, người có tâm hỷ lạc không cần phải tác ý: ‘Mong rằng thân của tôi sẽ được khinh an.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng thân của người có tâm hỷ lạc trở nên khinh an.”
Passaddhakāyassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘sukhaṁ vediyāmī’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ passaddhakāyo sukhaṁ vediyati.
When your body is tranquil you need not make a wish: ‘May I feel bliss!’ It’s only natural to feel bliss when your body is tranquil.
“Này các Tỳ khưu, người có thân khinh an không cần phải tác ý: ‘Mong rằng tôi sẽ cảm nhận được lạc.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng người có thân khinh an cảm nhận được lạc.”
Sukhino, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘cittaṁ me samādhiyatū’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ sukhino cittaṁ samādhiyati.
When you feel bliss you need not make a wish: ‘May my mind be immersed in samādhi!’ It’s only natural for the mind to become immersed in samādhi when you feel bliss.
“Này các Tỳ khưu, người có lạc không cần phải tác ý: ‘Mong rằng tâm của tôi sẽ được định tĩnh.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng tâm của người có lạc trở nên định tĩnh.”
Samāhitassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘yathābhūtaṁ jānāmi passāmī’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ samāhito yathābhūtaṁ jānāti passati.
When your mind is immersed in samādhi you need not make a wish: ‘May I truly know and see!’ It’s only natural to truly know and see when your mind is immersed in samādhi.
“Này các Tỳ khưu, người có tâm định tĩnh không cần phải tác ý: ‘Mong rằng tôi sẽ biết và thấy như thật.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng người có tâm định tĩnh biết và thấy như thật.”
Yathābhūtaṁ, bhikkhave, jānato passato na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘nibbindāmī’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ yathābhūtaṁ jānaṁ passaṁ nibbindati.
When you truly know and see you need not make a wish: ‘May I grow disillusioned!’ It’s only natural to grow disillusioned when you truly know and see.
“Này các Tỳ khưu, người biết và thấy như thật không cần phải tác ý: ‘Mong rằng tôi sẽ nhàm chán.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng người biết và thấy như thật trở nên nhàm chán.”
Nibbinnassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘virajjāmī’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ nibbinno virajjati.
When you’re disillusioned you need not make a wish: ‘May I become dispassionate!’ It’s only natural to grow dispassionate when you’re disillusioned.
“Này các Tỳ khưu, người nhàm chán không cần phải tác ý: ‘Mong rằng tôi sẽ ly tham.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng người nhàm chán trở nên ly tham.”
Virattassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: ‘vimuttiñāṇadassanaṁ sacchikaromī’ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ viratto vimuttiñāṇadassanaṁ sacchikaroti.
When you’re dispassionate you need not make a wish: ‘May I realize the knowledge and vision of freedom!’ It’s only natural to realize the knowledge and vision of freedom when you’re dispassionate.
“Này các Tỳ khưu, người ly tham không cần phải tác ý: ‘Mong rằng tôi sẽ chứng ngộ giải thoát tri kiến.’ Này các Tỳ khưu, đó là pháp tánh rằng người ly tham chứng ngộ giải thoát tri kiến.”
Iti kho, bhikkhave, virāgo vimuttiñāṇadassanattho vimuttiñāṇadassanānisaṁso, nibbidā virāgatthā virāgānisaṁsā, yathābhūtañāṇadassanaṁ nibbidatthaṁ nibbidānisaṁsaṁ, samādhi yathābhūtañāṇadassanattho yathābhūtañāṇadassanānisaṁso, sukhaṁ samādhatthaṁ samādhānisaṁsaṁ, passaddhi sukhatthā sukhānisaṁsā, pīti passaddhatthā passaddhānisaṁsā, pāmojjaṁ pītatthaṁ pītānisaṁsaṁ, avippaṭisāro pāmojjattho pāmojjānisaṁso, kusalāni sīlāni avippaṭisāratthāni avippaṭisārānisaṁsāni. Iti kho, bhikkhave, dhammā dhamme abhisandenti, dhammā dhamme paripūrenti apārā pāraṁ gamanāyā”ti.
Dutiyaṁ.
And so, mendicants, the knowledge and vision of freedom is the goal and benefit of dispassion. Dispassion is the goal and benefit of disillusionment. Disillusionment is the goal and benefit of truly knowing and seeing. Truly knowing and seeing is the goal and benefit of immersion. Immersion is the goal and benefit of bliss. Bliss is the goal and benefit of tranquility. Tranquility is the goal and benefit of rapture. Rapture is the goal and benefit of joy. Joy is the goal and benefit of not having regrets. Not having regrets is the goal and benefit of skillful ethics. And so, mendicants, good qualities flow on and fill up from one to the other, for going from the near shore to the far shore.”
Này các Tỳ khưu, như vậy, sự ly tham có mục đích là giải thoát tri kiến, có quả báu là giải thoát tri kiến; sự nhàm chán có mục đích là ly tham, có quả báu là ly tham; như thật tri kiến có mục đích là nhàm chán, có quả báu là nhàm chán; định có mục đích là như thật tri kiến, có quả báu là như thật tri kiến; lạc có mục đích là định, có quả báu là định; sự an tịnh có mục đích là lạc, có quả báu là lạc; hỷ có mục đích là an tịnh, có quả báu là an tịnh; sự hân hoan có mục đích là hỷ, có quả báu là hỷ; sự không hối hận có mục đích là hân hoan, có quả báu là hân hoan; các thiện giới có mục đích là không hối hận, có quả báu là không hối hận. Này các Tỳ khưu, như vậy, các pháp chảy vào các pháp, các pháp làm cho các pháp được viên mãn, để đi từ bờ bên này đến bờ bên kia. Hết bài kinh thứ hai.