- Aṅguttara Nikāya 11.1
- 1. Nissayavagga
Kimatthiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kimatthiyasutta
TTC 1Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, các thiện giới có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
—Có ý nghĩa không hối tiếc, có lợi ích không hối tiếc.
—Nhưng bạch Thế Tôn, không hối tiếc có ý nghĩa gì? Có lợi ích gì?
—Này Ananda, không hối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan.
—Bạch Thế Tôn, nhưng hân hoan có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
—Này Ananda, hân hoan có ý nghĩa hoan hỷ, có lợi ích hoan hỷ.
—Nhưng bạch Thế Tôn, hoan hỷ có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
—Này Ananda, hoan hỷ có ý nghĩa khinh an, có lợi ích khinh an.
—Nhưng bạch Thế Tôn, khinh an có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
—Này Ananda, khinh an có ý nghĩa an lạc, có lợi ích an lạc.
—Nhưng bạch Thế Tôn, an lạc có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
—Này Ananda, an lạc có ý nghĩa định, có lợi ích định.
—Nhưng bạch Thế Tôn, định có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
—Này Ananda, định có ý nghĩa như thật tri kiến, có lợi ích như thật tri kiến.
—Nhưng bạch Thế Tôn, như thật tri kiến có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
—Này Ananda, như thật tri kiến có ý nghĩa nhàm chán, có lợi ích nhàm chán.
—Nhưng bạch Thế Tôn, nhàm chán có ý nghĩa gì, có lợi ý gì?
—Này Ananda, nhàm chán có ý nghĩa ly tham, có lợi ích ly tham.
—Nhưng bạch Thế Tôn, ly tham có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
—Này Ananda ly tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến.
TTC 2Như vậy, này Ananda, các thiện giới có ý nghĩa không hối tiếc, có lợi ích không hối tiếc. Không hối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan. Hân hoan có ý nghĩa hoan hỷ, có lợi ích hoan hỷ. Hoan hỷ có ý nghĩa khinh an, có lợi ích khinh an. Khinh an có ý nghĩa an lạc, có lợi ích an lạc. An lạc có ý nghĩa định, có lợi ích định. Ðịnh có ý nghĩa gì như thật tri kiến, có lợi ích như thật tri kiến. Như thật tri kiến có ý nghĩa nhàm chán, có lợi ích nhàm chán. Nhàm chán có ý nghĩa ly tham, có lợi ích ly tham. Ly tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến. Như vậy, này Ananda, các thiện giới thứ lớp dẫn đến tối thượng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Mục Đích
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“kimatthiyāni, bhante, kusalāni sīlāni kimānisaṁsānī”ti?
“Avippaṭisāratthāni kho, ānanda, kusalāni sīlāni avippaṭisārānisaṁsānī”ti.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, what is the goal and benefit of skillful ethics?”
“Ānanda, having no regrets is the goal and benefit of skillful ethics.”
1. Tôi nghe như vầy. Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Bấy giờ, tôn giả Ānanda đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch đức Thế Tôn, các thiện giới có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, các thiện giới có sự không hối tiếc là mục đích, có sự không hối tiếc là lợi ích.”
“Avippaṭisāro pana, bhante, kimatthiyo kimānisaṁso”?
“Avippaṭisāro kho, ānanda, pāmojjattho pāmojjānisaṁso”.
“But what is the goal and benefit of having no regrets?”
“Joy is the goal and benefit of having no regrets.”
“Bạch đức Thế Tôn, vậy sự không hối tiếc có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, sự không hối tiếc có sự hân hoan là mục đích, có sự hân hoan là lợi ích.”
“Pāmojjaṁ pana, bhante, kimatthiyaṁ kimānisaṁsaṁ”?
“Pāmojjaṁ kho, ānanda, pītatthaṁ pītānisaṁsaṁ”.
“But what is the goal and benefit of joy?”
“Rapture …”
“Bạch đức Thế Tôn, vậy sự hân hoan có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, sự hân hoan có hỷ là mục đích, có hỷ là lợi ích.”
“Pīti pana, bhante, kimatthiyā kimānisaṁsā”?
“Pīti kho, ānanda, passaddhatthā passaddhānisaṁsā”.
“But what is the goal and benefit of rapture?”
“Tranquility …”
“Bạch đức Thế Tôn, vậy hỷ có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, hỷ có sự khinh an là mục đích, có sự khinh an là lợi ích.”
“Passaddhi pana, bhante, kimatthiyā kimānisaṁsā”?
“Passaddhi kho, ānanda, sukhatthā sukhānisaṁsā”.
“But what is the goal and benefit of tranquility?”
“Bliss …”
“Bạch đức Thế Tôn, vậy sự khinh an có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, sự khinh an có lạc là mục đích, có lạc là lợi ích.”
“Sukhaṁ pana, bhante, kimatthiyaṁ kimānisaṁsaṁ”?
“Sukhaṁ kho, ānanda, samādhatthaṁ samādhānisaṁsaṁ”.
“But what is the goal and benefit of bliss?”
“Immersion …”
“Bạch đức Thế Tôn, vậy lạc có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, lạc có định là mục đích, có định là lợi ích.”
“Samādhi pana, bhante, kimatthiyo kimānisaṁso”?
“Samādhi kho, ānanda, yathābhūtañāṇadassanattho yathābhūtañāṇadassanānisaṁso”.
“But what is the goal and benefit of immersion?”
“Truly knowing and seeing …”
“Bạch đức Thế Tôn, vậy định có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, định có tri kiến như thật là mục đích, có tri kiến như thật là lợi ích.”
“Yathābhūtañāṇadassanaṁ pana, bhante, kimatthiyaṁ kimānisaṁsaṁ”?
“Yathābhūtañāṇadassanaṁ kho, ānanda, nibbidatthaṁ nibbidānisaṁsaṁ”.
“But what is the goal and benefit of truly knowing and seeing?”
“Disillusionment …”
“Bạch đức Thế Tôn, vậy tri kiến như thật có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, tri kiến như thật có sự nhàm chán là mục đích, có sự nhàm chán là lợi ích.”
“Nibbidā pana, bhante, kimatthiyā kimānisaṁsā”?
“Nibbidā kho, ānanda, virāgatthā virāgānisaṁsā”.
“But what is the goal and benefit of disillusionment?”
“Dispassion …”
“Bạch đức Thế Tôn, vậy sự nhàm chán có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, sự nhàm chán có sự ly tham là mục đích, có sự ly tham là lợi ích.”
“Virāgo pana, bhante, kimatthiyo kimānisaṁso”?
“Virāgo kho, ānanda, vimuttiñāṇadassanattho vimuttiñāṇadassanānisaṁso.
“But what is the goal and benefit of dispassion?”
“Knowledge and vision of freedom is the goal and benefit of dispassion.
“Bạch đức Thế Tôn, vậy sự ly tham có mục đích gì, có lợi ích gì?” “Này Ānanda, sự ly tham có giải thoát tri kiến là mục đích, có giải thoát tri kiến là lợi ích.”
Iti kho, ānanda, kusalāni sīlāni avippaṭisāratthāni avippaṭisārānisaṁsāni, avippaṭisāro pāmojjattho pāmojjānisaṁso, pāmojjaṁ pītatthaṁ pītānisaṁsaṁ, pīti passaddhatthā passaddhānisaṁsā, passaddhi sukhatthā sukhānisaṁsā, sukhaṁ samādhatthaṁ samādhānisaṁsaṁ, samādhi yathābhūtañāṇadassanattho yathābhūtañāṇadassanānisaṁso, yathābhūtañāṇadassanaṁ nibbidatthaṁ nibbidānisaṁsaṁ, nibbidā virāgatthā virāgānisaṁsā, virāgo vimuttiñāṇadassanattho vimuttiñāṇadassanānisaṁso. Iti kho, ānanda, kusalāni sīlāni anupubbena aggāya parentī”ti.
Paṭhamaṁ.
So, Ānanda, the goal and benefit of skillful ethics is not having regrets. Joy is the goal and benefit of not having regrets. Rapture is the goal and benefit of joy. Tranquility is the goal and benefit of rapture. Bliss is the goal and benefit of tranquility. Immersion is the goal and benefit of bliss. Truly knowing and seeing is the goal and benefit of immersion. Disillusionment is the goal and benefit of truly knowing and seeing. Dispassion is the goal and benefit of disillusionment. And knowledge and vision of freedom is the goal and benefit of dispassion. So, Ānanda, skillful ethics progressively lead up to the highest.”
“Như vậy, này Ānanda, các thiện giới có sự không hối tiếc là mục đích, có sự không hối tiếc là lợi ích; sự không hối tiếc có sự hân hoan là mục đích, có sự hân hoan là lợi ích; sự hân hoan có hỷ là mục đích, có hỷ là lợi ích; hỷ có sự khinh an là mục đích, có sự khinh an là lợi ích; sự khinh an có lạc là mục đích, có lạc là lợi ích; lạc có định là mục đích, có định là lợi ích; định có tri kiến như thật là mục đích, có tri kiến như thật là lợi ích; tri kiến như thật có sự nhàm chán là mục đích, có sự nhàm chán là lợi ích; sự nhàm chán có sự ly tham là mục đích, có sự ly tham là lợi ích; sự ly tham có giải thoát tri kiến là mục đích, có giải thoát tri kiến là lợi ích. Như vậy, này Ānanda, các thiện giới tuần tự dẫn đến mục đích tối thượng.” Kinh thứ nhất.