- Aṅguttara Nikāya 10.87
- 9. Theravagga
Bản dịch
AN 10.87 — Tỷ Kheo Kàlaka
Nappiyasutta
TTC 1Tại đấy, nhân việc của Tỷ-kheo Kàlaka, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Vâng bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích kiện tụng, không tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích kiện tụng, không tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng, pháp này không đưa đến thân ái, không đưa đến kính trọng, không đưa đến bắt chước (được làm quen), không đưa đến hòa đồng, không đưa đến nhất trí.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa học tập, không tán thán chấp nhận các học pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa học tập, không tán thán chấp nhận các học pháp, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ác dục, không tán thán nhiếp phục ác dục. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ác dục, không tán thán nhiếp phục ác dục, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ, không tán thán nhiếp phục phẫn nộ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ, không tán thán nhiếp phục phẫn nộ, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gièm pha, không tán thán nhiếp phục gièm pha. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gièm pha, không tán thán nhiếp phục gièm pha, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lừa đảo, không tán thán nhiếp phục lừa đảo. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lừa đảo, không tán thán nhiếp phục lừa đảo, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo man trá, không tán thán nhiếp phục man trá. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo man trá, không tán thán nhiếp phục man trá, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tánh không vâng theo Chánh pháp, tánh không tán thán vâng theo Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tánh không vâng theo Chánh pháp, tánh không tán thán vâng theo Chánh pháp, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không thiền tịnh, không tán thán thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không thiền tịnh, không tán thán thiền tịnh, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh, không tán thán việc đón tiếp tốt đẹp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh, không tán thán việc tiếp đón tốt đẹp, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.
TTC 12Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo như vậy, nếu có ước muốn nào khởi lên: “Ôi mong rằng các vị đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường tôi”, nhưng các vị đồng Phạm hạnh không có cung kính, không có tôn trọng, không có đảnh lễ, cúng dường vị ấy. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì rằng các vị đồng Phạm hạnh có trí, quán thấy các pháp ác bất thiện không được đoạn tận trong vị ấy.
TTC 13Ví như, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa không thuần phục, dầu cho có khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng loài Người sẽ đặt ta trong vị trí của con ngựa đã được thuần thục, cho ta ăn với các đồ ăn dành cho con ngựa thuần phục, điều phục ta với sự điều phục dành cho con ngựa thuần thục”. Nhưng loài Người không đặt nó trong vị trí của con ngựa thuần thục, không cho nó ăn trong vị trí của con ngựa thuần thục, không điều phục nó với sự điều phục dành cho con ngựa thuần thục. Vì sao? Vì những người có trí thấy rõ được những tánh hạ liệt, sự lừa đảo, giả dối, xảo trá, xảo quyệt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo như vậy, nếu có ước muốn nào khởi lên: “Ôi mong rằng các vị đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường ta”, nhưng các vị đồng Phạm hạnh không có cung kính, không có tôn trọng, không có đảnh lễ, không có cúng dường vị ấy. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì rằng các vị đồng Phạm hạnh có trí, quán thấy các pháp ác bất thiện không được đoạn tận trong vị ấy.
TTC 14Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa thích kiện tụng, tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa thích kiện tụng, tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng. Pháp này đưa đến thân ái, đưa đến kính trọng, đưa đến muốn làm quen, đưa đến hòa đồng, đưa đến nhất trí.
TTC 15Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích học tập, tán thán chấp nhận học pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích học tập, tán thán chấp nhận học pháp. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.
TTC 16Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ít dục, tán thán nhiếp phục các dục. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ít dục, tán thán nhiếp phục các dục. Pháp này đưa đến thân ái … đưa đến nhất trí.
TTC 17Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phẫn nộ, tán thán nhiếp phục phẫn nộ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phẫn nộ, tán thán nhiếp phục phẫn nộ. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.
TTC 18Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không gièm pha, tán thán nhiếp phục gièm pha. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không gièm pha, tán thán nhiếp phục gièm pha. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.
TTC 19Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không lừa đảo, tán thán nhiếp phục lừa đảo. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không lừa đảo, tán thán nhiếp phục lừa đảo. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.
TTC 20Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không man trá, tán thán nhiếp phục man trá. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không man trá, tán thán nhiếp phục man trá. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.
TTC 21Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vâng theo Chánh pháp, tán thán vâng theo Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vâng theo Chánh pháp, tán thán vâng theo Chánh pháp. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.
TTC 22Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiền tịnh, tán thán thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiền tịnh, tán thán thiền tịnh. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.
TTC 23Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh, tán thán việc tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh, tán thán việc tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.
TTC 24Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy, nếu không có ước muốn nào khởi lên: “Ôi mong rằng các vị đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường ta”, nhưng các vị đồng Phạm hạnh cũng vẫn cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì rằng các vị đồng Phạm hạnh có trí, quán thấy các pháp ác bất thiện đã được đoạn tận nơi vị ấy.
TTC 25Ví như, này các Tỷ-kheo, một con ngựa thuần phục, dầu cho không khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng loài Người sẽ đặt ta trong vị trí của con ngựa đã thuần thục, cho ta ăn với các đồ ăn dành cho con ngựa thuần thục, điều phục ta với điều phục dành cho con ngựa thuần thục”. Nhưng loài Người vẫn đặt nó trong vị trí của con ngựa thuần thục, vẫn cho nó ăn với các đồ ăn dành cho con ngựa thuần thục, vẫn điều phục nó với điều phục dành cho con ngựa thuần thục. Vì sao? Vì những người có trí thấy rõ được những tánh hạ liệt, gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt của nó đã được đoạn tận. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo như vậy, nếu không có khởi lên ước muốn: “Ôi mong rằng các vị đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường ta”, nhưng các vị đồng Phạm hạnh vẫn cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các vị đồng Phạm hạnh có trí thấy rằng các pháp ác bất thiện ấy đã được đoạn tận nơi vị ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.87
- 9. Senior Mendicants
Disciplinary Issues
7. Kinh Không Được Yêu Mến
Tatra kho bhagavā kālaṅkataṁ bhikkhuṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
There the Buddha addressed the mendicants concerning the mendicant Kalandaka:
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
87. Vào lúc ấy, đức Thế Tôn nhân một vị tỳ khưu đã mệnh chung mà gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu. – Bạch ngài. – Các vị tỳ khưu ấy đã vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu adhikaraṇiko hoti, adhikaraṇasamathassa na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu adhikaraṇiko hoti adhikaraṇasamathassa na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
“Firstly, a mendicant raises disciplinary issues and doesn’t praise the settling of disciplinary issues. This quality doesn’t conduce to fondness, respect, esteem, harmony, and unity.
“Này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu hay gây ra tranh tụng và không tán dương việc dập tắt tranh tụng. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu hay gây ra tranh tụng và không tán dương việc dập tắt tranh tụng, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu na sikkhākāmo hoti, sikkhāsamādānassa na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu na sikkhākāmo hoti sikkhāsamādānassa na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant doesn’t want to train, and doesn’t praise taking up the training. …
“Lại nữa, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu không muốn học tập và không tán dương việc thực hành học tập. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu không muốn học tập và không tán dương việc thực hành học tập, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu pāpiccho hoti, icchāvinayassa na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu pāpiccho hoti icchāvinayassa na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant has corrupt wishes, and doesn’t praise getting rid of wishes. …
“Lại nữa, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa và không tán dương việc loại trừ ước muốn. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa và không tán dương việc loại trừ ước muốn, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu kodhano hoti, kodhavinayassa na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu kodhano hoti kodhavinayassa na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is irritable, and doesn’t praise getting rid of anger. …
“Lại nữa, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu hay phẫn nộ và không tán dương việc loại trừ phẫn nộ. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu hay phẫn nộ và không tán dương việc loại trừ phẫn nộ, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu makkhī hoti, makkhavinayassa na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu makkhī hoti makkhavinayassa na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant denigrates others, and doesn’t praise getting rid of denigration. …
“Lại nữa, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu hay phỉ báng và không tán dương việc loại trừ phỉ báng. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu hay phỉ báng và không tán dương việc loại trừ phỉ báng, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu saṭho hoti, sāṭheyyavinayassa na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu saṭho hoti sāṭheyyavinayassa na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is devious, and doesn’t praise getting rid of deviousness. …
“Lại nữa, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu xảo trá và không tán dương việc loại trừ xảo trá. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu xảo trá và không tán dương việc loại trừ xảo trá, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu māyāvī hoti, māyāvinayassa na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu māyāvī hoti māyāvinayassa na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is deceitful, and doesn’t praise getting rid of deceitfulness. …
“Lại nữa, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu gian xảo và không tán dương việc loại trừ gian xảo. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu gian xảo và không tán dương việc loại trừ gian xảo, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammānaṁ na nisāmakajātiko hoti, dhammanisantiyā na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu dhammānaṁ na nisāmakajātiko hoti dhammanisantiyā na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant doesn’t pay attention to the teachings, and doesn’t praise attending to the teachings. …
“Lại nữa, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu không có bản tánh lắng nghe các pháp và không tán dương việc thẩm sát các pháp. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu không có bản tánh lắng nghe các pháp và không tán dương việc thẩm sát các pháp, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu na paṭisallīno hoti, paṭisallānassa na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu na paṭisallīno hoti paṭisallānassa na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is not in retreat, and doesn’t praise retreat. …
“Lại nữa, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu không sống độc cư và không tán dương việc sống độc cư. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu không sống độc cư và không tán dương việc sống độc cư, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīnaṁ na paṭisanthārako hoti, paṭisanthārakassa na vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīnaṁ na paṭisanthārako hoti paṭisanthārakassa na vaṇṇavādī, ayampi dhammo na piyatāya na garutāya na bhāvanāya na sāmaññāya na ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is inhospitable to their spiritual companions, and doesn’t praise hospitality. This quality doesn’t conduce to fondness, respect, esteem, harmony, and unity.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu không thân thiện với các vị đồng phạm hạnh và không tán dương người thân thiện. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu không thân thiện với các vị đồng phạm hạnh và không tán dương người thân thiện, pháp này không đưa đến sự quý mến, không đưa đến sự tôn trọng, không đưa đến sự tu tập, không đưa đến phẩm hạnh Sa-môn, không đưa đến sự hợp nhất.
Evarūpassa, bhikkhave, bhikkhuno kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya:
Even though a mendicant such as this might wish:
“Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu có bản chất như vậy, cho dù ước muốn như vầy có thể khởi lên: ‘Ôi, mong sao các vị đồng phạm hạnh tôn trọng, cung kính, quý mến, cúng dường ta,’ tuy nhiên các vị đồng phạm hạnh vẫn không tôn trọng, không cung kính, không quý mến, không cúng dường vị ấy. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, là vì các vị đồng phạm hạnh có trí tuệ nhận thấy các pháp ác, bất thiện ấy chưa được từ bỏ nơi vị ấy.
Seyyathāpi, bhikkhave, assakhaḷuṅkassa kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata maṁ manussā ājānīyaṭṭhāne ṭhapeyyuṁ, ājānīyabhojanañca bhojeyyuṁ, ājānīyaparimajjanañca parimajjeyyun’ti, atha kho naṁ manussā na ceva ājānīyaṭṭhāne ṭhapenti na ca ājānīyabhojanaṁ bhojenti na ca ājānīyaparimajjanaṁ parimajjanti. Taṁ kissa hetu? Tathāhissa, bhikkhave, viññū manussā tāni sāṭheyyāni kūṭeyyāni jimheyyāni vaṅkeyyāni appahīnāni samanupassanti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, evarūpassa bhikkhuno kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata maṁ sabrahmacārī sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyun’ti, atha kho naṁ sabrahmacārī na ceva sakkaronti na garuṁ karonti na mānenti na pūjenti. Taṁ kissa hetu? Tathāhissa, bhikkhave, viññū sabrahmacārī te pāpake akusale dhamme appahīne samanupassanti.
Suppose a wild colt was to wish: ‘If only the humans would put me in a thoroughbred’s place, feed me a thoroughbred’s food, and give me a thoroughbred’s grooming.’ Still the humans wouldn’t put them in a thoroughbred’s place, feed them a thoroughbred’s food, or give them a thoroughbred’s grooming. Why is that? Because sensible humans see that they haven’t given up their tricks, bluffs, ruses, and feints. In the same way, even though a mendicant such as this might wish: ‘If only my spiritual companions would honor, respect, esteem, and venerate me!’ Still they don’t honor, respect, esteem, and venerate them. Why is that? Because their sensible spiritual companions see that they haven’t given up those bad unskillful qualities.
“Này các Tỳ khưu, ví như con ngựa xấu, ngựa chứng, dầu cho có khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong sao loài người đặt ta vào địa vị của con ngựa thuần chủng, cho ta ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và chải chuốt ta như cách chải chuốt ngựa thuần chủng!’, nhưng rồi loài người đã không đặt nó vào địa vị của con ngựa thuần chủng, không cho nó ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và không chải chuốt nó như cách chải chuốt ngựa thuần chủng. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, là vì những người có trí thấy rõ rằng những tính xảo trá, gian xảo, quanh co, cong vẹo ấy của nó vẫn chưa được từ bỏ. Cũng thế ấy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có tính cách như vậy, dầu cho có khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong sao các vị đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường ta!’, nhưng rồi các vị đồng phạm hạnh đã không cung kính, không tôn trọng, không quý mến, không cúng dường vị ấy. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, là vì các vị đồng phạm hạnh có trí thấy rõ rằng những pháp ác, bất thiện ấy của vị ấy vẫn chưa được từ bỏ.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu na adhikaraṇiko hoti, adhikaraṇasamathassa vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu na adhikaraṇiko hoti adhikaraṇasamathassa vaṇṇavādī, ayampi dhammo piyatāya garutāya bhāvanāya sāmaññāya ekībhāvāya saṁvattati.
Next, a mendicant doesn’t raise disciplinary issues and praises the settling of disciplinary issues. This quality conduces to fondness, respect, esteem, harmony, and unity.
“Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu không phải là người gây ra tranh tụng, là người tán thán sự dập tắt tranh tụng. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu không phải là người gây ra tranh tụng, là người tán thán sự dập tắt tranh tụng, pháp này cũng đưa đến sự khả ái, sự tôn trọng, sự tu tập, sự xứng danh Sa-môn, sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sikkhākāmo hoti, sikkhāsamādānassa vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu sikkhākāmo hoti sikkhāsamādānassa vaṇṇavādī, ayampi dhammo piyatāya garutāya bhāvanāya sāmaññāya ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant wants to train, and praises taking up the training. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là người ham học hỏi, là người tán thán sự thọ trì học giới. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu là người ham học hỏi, là người tán thán sự thọ trì học giới, pháp này cũng đưa đến sự khả ái, sự tôn trọng, sự tu tập, sự xứng danh Sa-môn, sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu appiccho hoti, icchāvinayassa vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu appiccho hoti icchāvinayassa vaṇṇavādī, ayampi dhammo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant has few desires, and praises getting rid of desires. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là người thiểu dục, là người tán thán sự điều phục lòng ham muốn. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu là người thiểu dục, là người tán thán sự điều phục lòng ham muốn, pháp này cũng... v.v... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu akkodhano hoti, kodhavinayassa vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu akkodhano hoti kodhavinayassa vaṇṇavādī, ayampi dhammo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is not irritable, and praises getting rid of anger. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là người không sân hận, là người tán thán sự điều phục sân hận. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu là người không sân hận, là người tán thán sự điều phục sân hận, pháp này cũng... v.v... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu amakkhī hoti, makkhavinayassa vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu amakkhī hoti makkhavinayassa vaṇṇavādī, ayampi dhammo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant doesn’t denigrate others, and praises getting rid of denigration. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là người không phỉ báng, là người tán thán sự điều phục phỉ báng. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu là người không phỉ báng, là người tán thán sự điều phục phỉ báng, pháp này cũng... v.v... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu asaṭho hoti, sāṭheyyavinayassa vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu asaṭho hoti sāṭheyyavinayassa vaṇṇavādī, ayampi dhammo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant isn’t devious, and praises getting rid of deviousness. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là người không xảo trá, là người tán thán sự điều phục xảo trá. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu là người không xảo trá, là người tán thán sự điều phục xảo trá, pháp này cũng... v.v... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu amāyāvī hoti, māyāvinayassa vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu amāyāvī hoti māyāvinayassa vaṇṇavādī, ayampi dhammo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant isn’t deceitful, and praises getting rid of deceitfulness. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là người không gian xảo, là người tán thán sự điều phục gian xảo. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu là người không gian xảo, là người tán thán sự điều phục gian xảo, pháp này cũng... v.v... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammānaṁ nisāmakajātiko hoti, dhammanisantiyā vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu dhammānaṁ nisāmakajātiko hoti dhammanisantiyā vaṇṇavādī, ayampi dhammo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant pays attention to the teachings, and praises attending to the teachings. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là người có bản tánh thẩm sát các pháp, là người tán thán sự thẩm sát các pháp. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu là người có bản tánh thẩm sát các pháp, là người tán thán sự thẩm sát các pháp, pháp này cũng... v.v... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu paṭisallīno hoti, paṭisallānassa vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu paṭisallīno hoti paṭisallānassa vaṇṇavādī, ayampi dhammo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is in retreat, and praises retreat. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là người sống độc cư, là người tán thán sự sống độc cư. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu là người sống độc cư, là người tán thán sự sống độc cư, pháp này cũng... v.v... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīnaṁ paṭisanthārako hoti, paṭisanthārakassa vaṇṇavādī. Yampi, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīnaṁ paṭisanthārako hoti paṭisanthārakassa vaṇṇavādī, ayampi dhammo piyatāya garutāya bhāvanāya sāmaññāya ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is hospitable to their spiritual companions, and praises hospitality. This quality conduces to fondness, respect, esteem, harmony, and unity.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là người thân thiện với các vị đồng phạm hạnh, là người tán thán sự thân thiện. Này các Tỳ khưu, pháp này là vị Tỳ khưu là người thân thiện với các vị đồng phạm hạnh, là người tán thán sự thân thiện, pháp này cũng đưa đến sự khả ái, sự tôn trọng, sự tu tập, sự xứng danh Sa-môn, sự hợp nhất.
Evarūpassa, bhikkhave, bhikkhuno kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata maṁ sabrahmacārī sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyun’ti, atha kho naṁ sabrahmacārī sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti. Taṁ kissa hetu? Tathāhissa, bhikkhave, viññū sabrahmacārī te pāpake akusale dhamme pahīne samanupassanti.
Even though a mendicant such as this might never wish: ‘If only my spiritual companions would honor, respect, esteem, and venerate me!’ Still they honor, respect, esteem, and venerate them. Why is that? Because their sensible spiritual companions see that they’ve given up those bad unskillful qualities.
“Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu có tính cách như vậy, dầu cho không khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong sao các vị đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường ta!’, nhưng rồi các vị đồng phạm hạnh vẫn cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường vị ấy. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, là vì các vị đồng phạm hạnh có trí thấy rõ rằng những pháp ác, bất thiện ấy của vị ấy đã được từ bỏ.
Seyyathāpi, bhikkhave, bhaddassa assājānīyassa kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata maṁ manussā ājānīyaṭṭhāne ṭhapeyyuṁ, ājānīyabhojanañca bhojeyyuṁ, ājānīyaparimajjanañca parimajjeyyun’ti, atha kho naṁ manussā ājānīyaṭṭhāne ca ṭhapenti ājānīyabhojanañca bhojenti ājānīyaparimajjanañca parimajjanti. Taṁ kissa hetu? Tathāhissa, bhikkhave, viññū manussā tāni sāṭheyyāni kūṭeyyāni jimheyyāni vaṅkeyyāni pahīnāni samanupassanti.
Suppose a fine thoroughbred never wished: ‘If only the humans would put me in a thoroughbred’s place, feed me a thoroughbred’s food, and give me a thoroughbred’s grooming.’ Still the humans would put them in a thoroughbred’s place, feed them a thoroughbred’s food, and give them a thoroughbred’s grooming. Why is that? Because sensible humans see that they’ve given up their tricks, bluffs, ruses, and feints.
“Này các Tỳ khưu, ví như con ngựa thuần chủng, ngựa tốt, dầu cho không khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong sao loài người đặt ta vào địa vị của con ngựa thuần chủng, cho ta ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và chải chuốt ta như cách chải chuốt ngựa thuần chủng!’, nhưng rồi loài người vẫn đặt nó vào địa vị của con ngựa thuần chủng, cho nó ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và chải chuốt nó như cách chải chuốt ngựa thuần chủng. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, là vì những người có trí thấy rõ rằng những tính xảo trá, gian xảo, quanh co, cong vẹo ấy của nó đã được từ bỏ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, evarūpassa bhikkhuno kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata maṁ sabrahmacārī sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyun’ti, atha kho naṁ sabrahmacārī sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti. Taṁ kissa hetu? Tathāhissa, bhikkhave, viññū sabrahmacārī te pāpake akusale dhamme pahīne samanupassantī”ti.
Sattamaṁ.
In the same way, even though a mendicant such as this might never wish: ‘If only my spiritual companions would honor, respect, esteem, and venerate me!’ Still they honor, respect, esteem, and venerate them. Why is that? Because their sensible spiritual companions see that they’ve given up those bad unskillful qualities.”
“Cũng thế ấy, này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu có tính cách như vậy, dầu cho không khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong sao các vị đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường ta!’, nhưng rồi các vị đồng phạm hạnh vẫn cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường vị ấy. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, là vì các vị đồng phạm hạnh có trí thấy rõ rằng những pháp ác, bất thiện ấy của vị ấy đã được từ bỏ.” (Kinh) thứ bảy.