- Aṅguttara Nikāya 10.54
- 6. Sacittavagga
Bản dịch
AN 10.54 — Tịnh Chỉ
Samathasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: “Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, ưa muốn trang điểm, quán sát hình ảnh mặt mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong. Nếu thấy trên mặt có một hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi ấy hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp, người ấy hoan hỷ thỏa mãn: “Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch! “. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như vậy được nhiều lợi ích trong các thiện pháp: “Có phải ta được lợi đắc nội tâm tịnh chỉ, hay ta không được lợi đắc nội tâm tịnh nhỉ? Có phải ta được tăng thượng tuệ pháp quán, hay không được tăng thượng tuệ pháp quán?
TTC 3Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, nhưng ta không được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú nội tâm tịnh chỉ, cần phải nỗ lực để đạt cho được tăng thượng tuệ pháp quán ấy; sau một thời gian, đạt được nội tâm tịnh chỉ và được tăng thượng tuệ pháp quán.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được tăng thượng tuệ pháp quán, nhưng không có được nội tâm tịnh chỉ”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú tăng thượng tuệ pháp quán, cần phải nỗ lực để đạt cho được nội tâm tịnh chỉ. Vị ấy sau một thời gian, đạt được tăng thượng tuệ pháp quán và chứng được nội tâm tịnh chỉ.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta không có được nội tâm tịnh chỉ. Ta không có được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đạt cho được các thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đạt cho được các thiện pháp ấy. Vị ấy trong một thời gian khác, đạt được nội tâm tịnh chỉ và đạt được tăng thượng tuệ pháp quán.
TTC 6Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, ta có được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, cần phải nỗ lực, chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc nữa.
TTC 7Này các Tỷ kheo, ta nói, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng. Này các Tỳ kheo, Ta cũng nói, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng. Này các Tỳ Kheo, Ta cũng nói, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.. Ta cũng nói, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.. Này các Tỳ kheo, Ta cũng nói, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.. Này các Tỷ kheo. Ta cũng nói, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.
TTC 8Này các Tỳ kheo, Ta nói, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được y áo nào: “Y áo này, được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời y áo như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được y áo nào: “Y áo này, được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời y áo như vậy nên sử dụng.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 9Này các Tỳ Kheo, Ta nói rằng, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được đồ ăn khất thực nào: “Ðồ ăn khất thực này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời đồ ăn khất thực như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được đồ ăn khất thực nào: “Ðồ ăn khất thực này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời đồ ăn khất thực như vậy nên sử dụng.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 10Này các Tỳ-Kheo, Ta nói rằng, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được sàng tọa nào: “Sàng tọa này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời sàng tọa như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được sàng tọa nào: “Sàng tọa này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời sàng tọa như vậy nên sử dụng.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
TTC 11—Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được làng, thị trấn nào: “Làng, thị trấn này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị tổn giảm”, thời làng, thị trấn như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được làng, thị trấn nào: “Làng, thị trấn được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời làng, thị trấn như vậy nên sử dụng.
Này, các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 12Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được quốc độ nào: “Quốc độ này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các thiện pháp tổn giảm”, thời quốc độ như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được quốc độ nào: “Quốc độ này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời quốc độ như vậy nên sử dụng.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 13Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được người nào: “Người này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời người như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được người nào: “Người này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời người như vậy nên sử dụng. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.54
- 6. Your Own Mind
Serenity
4. Kinh Samatha
“No ce, bhikkhave, bhikkhu paracittapariyāyakusalo hoti, atha ‘sacittapariyāyakusalo bhavissāmī’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
“Mendicants, if a mendicant isn’t skilled in encompassing another’s mind, then they should train themselves: ‘I will be skilled in encompassing my own mind.’
54. “Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu không thiện xảo trong việc biết tâm của người khác, thì này các tỳ khưu, các ngươi nên học tập như vầy: ‘Ta sẽ là người thiện xảo trong việc biết tâm của mình’.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sacittapariyāyakusalo hoti? Seyyathāpi, bhikkhave, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno sace tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tasseva rajassa vā aṅgaṇassa vā pahānāya vāyamati. No ce tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tenevattamano hoti paripuṇṇasaṅkappo: ‘lābhā vata me, parisuddhaṁ vata me’ti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇā bahukārā hoti kusalesu dhammesu: ‘lābhī nu khomhi ajjhattaṁ cetosamathassa, na nu khomhi lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa, lābhī nu khomhi adhipaññādhammavipassanāya, na nu khomhi lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti.
And how is a mendicant skilled in encompassing their own mind? Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and they check their own reflection in a clean bright mirror or a clear bowl of water. If they see any dirt or blemish there, they’d try to remove it. But if they don’t see any dirt or blemish there, they’re happy with that, as they’ve got all they wished for: ‘How fortunate that I’m clean!’ In the same way, checking is very helpful for a mendicant’s skillful qualities. ‘Do I have internal serenity of heart or not? Do I have the higher wisdom of discernment of principles or not?’
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu thiện xảo trong việc quán xét tâm của mình? Này các Tỳ khưu, ví như người nữ hay người nam, trẻ trung, thanh xuân, thích trang điểm, khi soi bóng mặt của mình trong tấm gương trong sạch, sáng loáng, hoặc trong chén nước trong, nếu thấy ở đó có bụi bặm hay vết nhơ, người ấy nỗ lực để loại trừ bụi bặm hay vết nhơ ấy. Nếu không thấy ở đó có bụi bặm hay vết nhơ, người ấy hoan hỷ, mãn nguyện: ‘Thật là lợi ích cho ta! Thật là trong sạch cho ta!’. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, sự quán xét của vị Tỳ khưu có ích lợi lớn lao đối với các thiện pháp: ‘Ta có đắc được nội tâm chỉ hay không? Ta không đắc được nội tâm chỉ hay không? Ta có đắc được tuệ quán các pháp hay không? Ta không đắc được tuệ quán các pháp hay không?’.”
Sace, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘lābhīmhi ajjhattaṁ cetosamathassa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā ajjhattaṁ cetosamathe patiṭṭhāya adhipaññādhammavipassanāya yogo karaṇīyo. So aparena samayena lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya.
Suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘I have serenity but not discernment.’ Grounded on serenity, they should practice meditation to get discernment. After some time they have both serenity and discernment.
“Này các Tỳ khưu, nếu vị Tỳ khưu khi quán xét biết như vầy: ‘Ta đắc được nội tâm chỉ, nhưng không đắc được tuệ quán các pháp’, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy, sau khi an trú vào nội tâm chỉ, nên nỗ lực tu tập tuệ quán các pháp. Về sau, vị ấy đắc được cả nội tâm chỉ và tuệ quán các pháp.”
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘lābhīmhi adhipaññādhammavipassanāya, na lābhī ajjhattaṁ cetosamathassā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā adhipaññādhammavipassanāya patiṭṭhāya ajjhattaṁ cetosamathe yogo karaṇīyo. So aparena samayena lābhī ceva hoti adhipaññādhammavipassanāya lābhī ca ajjhattaṁ cetosamathassa.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘I have discernment but not serenity.’ Grounded on discernment, they should practice meditation to get serenity. After some time they have both serenity and discernment.
“Này các Tỳ khưu, lại nữa, nếu vị Tỳ khưu khi quán xét biết như vầy: ‘Ta đắc được tuệ quán các pháp, nhưng không đắc được nội tâm chỉ’, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy, sau khi an trú vào tuệ quán các pháp, nên nỗ lực tu tập nội tâm chỉ. Về sau, vị ấy đắc được cả tuệ quán các pháp và nội tâm chỉ.”
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘na lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ. Seyyathāpi, bhikkhave, ādittacelo vā ādittasīso vā. Tasseva celassa vā sīsassa vā nibbāpanāya adhimattaṁ chandañca vāyāmañca ussāhañca ussoḷhiñca appaṭivāniñca satiñca sampajaññañca kareyya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, tena bhikkhunā tesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ. So aparena samayena lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘I have neither serenity nor discernment.’ In order to get those skillful qualities, they should apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness. Suppose your clothes or head were on fire. In order to extinguish it, you’d apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness. In the same way, in order to get those skillful qualities, that mendicant should apply extraordinary enthusiasm … After some time they have both serenity and discernment.
“Này các Tỳ khưu, lại nữa, nếu vị Tỳ khưu khi quán xét biết như vầy: ‘Ta không đắc được nội tâm chỉ, cũng không đắc được tuệ quán các pháp’, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên thực hành ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, gắng sức, không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách mãnh liệt để đắc được chính những thiện pháp ấy. Này các Tỳ khưu, ví như người có y phục bị cháy hay đầu bị cháy, người ấy sẽ thực hành ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, gắng sức, không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách mãnh liệt để dập tắt lửa trên y phục hay trên đầu. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên thực hành ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, gắng sức, không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách mãnh liệt để đắc được chính những thiện pháp ấy. Về sau, vị ấy đắc được cả nội tâm chỉ và tuệ quán các pháp.”
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘lābhīmhi ajjhattaṁ cetosamathassa, lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesuyeva kusalesu dhammesu patiṭṭhāya uttari āsavānaṁ khayāya yogo karaṇīyo.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘I have both serenity and discernment.’ Grounded on those skillful qualities, they should practice meditation further to end the defilements.
“Này các Tỳ khưu, lại nữa, nếu vị Tỳ khưu khi quán xét biết như vầy: ‘Ta đắc được nội tâm chỉ, và đắc được tuệ quán các pháp’, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy, sau khi an trú vào chính những thiện pháp ấy, nên nỗ lực hơn nữa để đoạn tận các lậu hoặc.”
Cīvarampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampi. Piṇḍapātampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampi. Senāsanampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampi. Gāmanigamampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampi. Janapadapadesampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampi. Puggalampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampi.
I say that there are two kinds of robes: those you should wear, and those you shouldn’t wear. I say that there are two kinds of almsfood: that which you should eat, and that which you shouldn’t eat. I say that there are two kinds of lodging: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent. I say that there are two kinds of village or town: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent. I say that there are two kinds of country: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent. I say that there are two kinds of individual: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.
“Này các Tỳ khưu, Ta nói y phục có hai loại: loại nên sử dụng và loại không nên sử dụng. Này các Tỳ khưu, Ta nói vật thực khất thực có hai loại: loại nên sử dụng và loại không nên sử dụng. Này các Tỳ khưu, Ta nói chỗ ở có hai loại: loại nên sử dụng và loại không nên sử dụng. Này các Tỳ khưu, Ta nói làng mạc và thị trấn có hai loại: loại nên lui tới và loại không nên lui tới. Này các Tỳ khưu, Ta nói quốc độ và địa phương có hai loại: loại nên lui tới và loại không nên lui tới. Này các Tỳ khưu, Ta nói hạng người có hai loại: loại nên thân cận và loại không nên thân cận.”
‘Cīvarampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ: ‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ na sevitabbaṁ. Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ: ‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ sevitabbaṁ. ‘Cīvarampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘I say that there are two kinds of robes: those you should wear, and those you shouldn’t wear.’ That’s what I said, but why did I say it? Well, should you know of a robe: ‘When I wear this robe, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not wear that kind of robe. Whereas, should you know of a robe: ‘When I wear this robe, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should wear that kind of robe. ‘I say that there are two kinds of robes: those you should wear, and those you shouldn’t wear.’ That’s what I said, and this is why I said it.
“Khi Ta nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta nói y phục có hai loại: loại nên sử dụng và loại không nên sử dụng’, chính do điều này đã được nói. Và do duyên vào đâu mà điều này được nói? Ở đây, nếu biết về một loại y phục rằng: ‘Khi ta sử dụng y phục này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm’, thì loại y phục như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết về một loại y phục rằng: ‘Khi ta sử dụng y phục này, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng’, thì loại y phục như vậy nên được sử dụng. Khi Ta nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta nói y phục có hai loại: loại nên sử dụng và loại không nên sử dụng’, chính là do duyên vào điều này mà điều ấy đã được nói.”
‘Piṇḍapātampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ: ‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo piṇḍapāto na sevitabbo. Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ: ‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo piṇḍapāto sevitabbo. ‘Piṇḍapātampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘I say that there are two kinds of almsfood: that which you should eat, and that which you shouldn’t eat.’ That’s what I said, but why did I say it? Well, should you know of almsfood: ‘When I eat this almsfood, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not eat that kind of almsfood. Whereas, should you know of almsfood: ‘When I eat this almsfood, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should eat that kind of almsfood. ‘I say that there are two kinds of almsfood: that which you should eat, and that which you shouldn’t eat.’ That’s what I said, and this is why I said it.
“Khi Ta nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta nói vật thực khất thực có hai loại: loại nên sử dụng và loại không nên sử dụng’, chính do điều này đã được nói. Và do duyên vào đâu mà điều này được nói? Ở đây, nếu biết về một loại vật thực khất thực rằng: ‘Khi ta sử dụng vật thực khất thực này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm’, thì loại vật thực khất thực như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết về một loại vật thực khất thực rằng: ‘Khi ta sử dụng vật thực khất thực này, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng’, thì loại vật thực khất thực như vậy nên được sử dụng. Khi Ta nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta nói vật thực khất thực có hai loại: loại nên sử dụng và loại không nên sử dụng’, chính là do duyên vào điều này mà điều ấy đã được nói.”
‘Senāsanampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ: ‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ na sevitabbaṁ. Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ: ‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ sevitabbaṁ. ‘Senāsanampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘I say that there are two kinds of lodging: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’ That’s what I said, but why did I say it? Well, should you know of a lodging: ‘When I frequent this lodging, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not frequent that kind of lodging. Whereas, should you know of a lodging: ‘When I frequent this lodging, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should frequent that kind of lodging. ‘I say that there are two kinds of lodging: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’ That’s what I said, and this is why I said it.
‘Này các Tỳ khưu, Ta nói về chỗ ở có hai loại: loại nên lui tới và loại không nên lui tới.’ Lời nói ấy đã được nói ra như vậy. Và do duyên vào điều gì mà lời nói ấy đã được nói ra? Ở đây, vị ấy nên biết về chỗ ở nào mà: ‘Khi ta lui tới chỗ ở này, các pháp bất thiện của ta tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm,’ thì loại chỗ ở như vậy không nên lui tới. Ở đây, vị ấy nên biết về chỗ ở nào mà: ‘Khi ta lui tới chỗ ở này, các pháp bất thiện của ta bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng,’ thì loại chỗ ở như vậy nên lui tới. ‘Này các Tỳ khưu, Ta nói về chỗ ở có hai loại: loại nên lui tới và loại không nên lui tới,’ lời nói ấy đã được nói ra, chính là do duyên vào điều này mà lời nói ấy đã được nói ra.
‘Gāmanigamampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ: ‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo gāmanigamo na sevitabbo. Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ: ‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo gāmanigamo sevitabbo. ‘Gāmanigamampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘I say that there are two kinds of village or town: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’ That’s what I said, but why did I say it? Well, should you know of a village or town: ‘When I frequent this village or town, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not frequent that kind of village or town. Whereas, should you know of a village or town: ‘When I frequent this village or town, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should frequent that kind of village or town. ‘I say that there are two kinds of village or town: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’ That’s what I said, and this is why I said it.
‘Này các Tỳ khưu, Ta nói về làng mạc và thị trấn có hai loại: loại nên lui tới và loại không nên lui tới.’ Lời nói ấy đã được nói ra như vậy. Và do duyên vào điều gì mà lời nói ấy đã được nói ra? Ở đây, vị ấy nên biết về làng mạc và thị trấn nào mà: ‘Khi ta lui tới làng mạc và thị trấn này, các pháp bất thiện của ta tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm,’ thì loại làng mạc và thị trấn như vậy không nên lui tới. Ở đây, vị ấy nên biết về làng mạc và thị trấn nào mà: ‘Khi ta lui tới làng mạc và thị trấn này, các pháp bất thiện của ta bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng,’ thì loại làng mạc và thị trấn như vậy nên lui tới. ‘Này các Tỳ khưu, Ta nói về làng mạc và thị trấn có hai loại: loại nên lui tới và loại không nên lui tới,’ lời nói ấy đã được nói ra, chính là do duyên vào điều này mà lời nói ấy đã được nói ra.
‘Janapadapadesampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ: ‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo janapadapadeso na sevitabbo. Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ: ‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo janapadapadeso sevitabbo. ‘Janapadapadesampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘I say that there are two kinds of country: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’ That’s what I said, but why did I say it? Well, should you know of a country: ‘When I frequent this country, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not frequent that kind of country. Whereas, should you know of a country: ‘When I frequent this country, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should frequent that kind of country. ‘I say that there are two kinds of country: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’ That’s what I said, and this is why I said it.
‘Này các Tỳ khưu, Ta nói về vùng địa phương có hai loại: loại nên lui tới và loại không nên lui tới.’ Lời nói ấy đã được nói ra như vậy. Và do duyên vào điều gì mà lời nói ấy đã được nói ra? Ở đây, vị ấy nên biết về vùng địa phương nào mà: ‘Khi ta lui tới vùng địa phương này, các pháp bất thiện của ta tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm,’ thì loại vùng địa phương như vậy không nên lui tới. Ở đây, vị ấy nên biết về vùng địa phương nào mà: ‘Khi ta lui tới vùng địa phương này, các pháp bất thiện của ta bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng,’ thì loại vùng địa phương như vậy nên lui tới. ‘Này các Tỳ khưu, Ta nói về vùng địa phương có hai loại: loại nên lui tới và loại không nên lui tới,’ lời nói ấy đã được nói ra, chính là do duyên vào điều này mà lời nói ấy đã được nói ra.
‘Puggalampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ: ‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo puggalo na sevitabbo. Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ: ‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo puggalo sevitabbo. ‘Puggalampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—sevitabbampi asevitabbampī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Catutthaṁ.
‘I say that there are two two kinds of individual: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’ That’s what I said, but why did I say it? Well, should you know of an individual: ‘When I frequent this individual, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not frequent that kind of individual. Whereas, should you know of an individual: ‘When I frequent this individual, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should frequent that kind of individual. ‘I say that there are two kinds of individual: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’ That’s what I said, and this is why I said it.”
‘Này các Tỳ khưu, Ta nói về hạng người có hai loại: loại nên thân cận và loại không nên thân cận.’ Lời nói ấy đã được nói ra như vậy. Và do duyên vào điều gì mà lời nói ấy đã được nói ra? Ở đây, vị ấy nên biết về hạng người nào mà: ‘Khi ta thân cận hạng người này, các pháp bất thiện của ta tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm,’ thì loại người như vậy không nên thân cận. Ở đây, vị ấy nên biết về hạng người nào mà: ‘Khi ta thân cận hạng người này, các pháp bất thiện của ta bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng,’ thì loại người như vậy nên thân cận. ‘Này các Tỳ khưu, Ta nói về hạng người có hai loại: loại nên thân cận và loại không nên thân cận,’ lời nói ấy đã được nói ra, chính là do duyên vào điều này mà lời nói ấy đã được nói ra. (Kinh) thứ tư.