- Aṅguttara Nikāya 10.55
- 6. Sacittavagga
Bản dịch
AN 10.55 — Tổn Giảm
Parihānasutta
TTC 1Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
TTC 2—Có người bản tánh là tổn giảm, có người bản tánh là không tổn giảm, này chư Hiền, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến? Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là không tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
—Thưa Hiền giả, chúng tôi đi từ xa đến để được hiểu rõ ý nghĩa lời nói này từ Tôn giả Sàriputta. Lành thay, nếu ý nghĩa lời nói này được Tôn giả Sàriputta nói lên. Sau khi nghe Tôn giả Sàriputta, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này chư Hiền, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói:
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
—Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
TTC 3Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo không nghe pháp chưa được nghe, và pháp đã được nghe đi đến bị quên; các pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành, và không thức tri những pháp chưa được thức tri. Cho đến như vậy, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến. Nhưng này chư Hiền, cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là không tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
TTC 4Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo nghe pháp chưa được nghe, và các thiện pháp được nghe không có quên đi. Và những pháp nào trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy được hiện hành, và thức tri những pháp chưa được thức tri. Cho đến như vậy, này chư Hiền, là người bản tánh không bị tổn giảm được Thế Tôn nói đến.
TTC 5Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: “Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta”. Như vậy, này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập. Và này chư Hiền, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?
TTC 6Ví như, này chư Hiền, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt của mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong, nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp người ấy hoan hỷ thỏa mãn: “Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch! “. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo có quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp: “Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với tâm không sân? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên đã từ bỏ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với không trạo cử? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta có được nội tâm pháp hỷ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta đã được nội tâm an chỉ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta đã có được tối thắng tuệ pháp quán? Không biết trong ta có pháp này hay không có? “
TTC 7Này chư Hiền, nếu vị Tỷ-kheo trong khi quán sát, không thấy có trong tự ngã tất cả thiện pháp này, thời Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dũng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này.
TTC 8Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp và không thấy có một số thiện pháp, thời này chư Hiền, đối với các thiện pháp nào vị ấy thấy có trong tự ngã, vị ấy an trú trong các thiện pháp ấy. Ðối với các thiện pháp nào, vị ấy không thấy có trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo, trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp, thời an trú trong các thiện pháp ấy. Còn đối với các thiện pháp vị ấy không thấy trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được các thiện pháp ấy.
TTC 9Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, thấy tất cả pháp này đều có trong tự ngã, thời này chư Hiền, Tỷ-kheo ấy sau khi an trú trong tất cả thiện pháp này, cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.55
- 6. Your Own Mind
Decline
5. Kinh Suy Giảm
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
There Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
55. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ khưu: ‘Này chư hiền Tỳ khưu.’ Các Tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta: ‘Thưa hiền giả.’ Tôn giả Sāriputta nói điều này:
“‘Parihānadhammo puggalo, parihānadhammo puggalo’ti, āvuso, vuccati. ‘Aparihānadhammo puggalo, aparihānadhammo puggalo’ti, āvuso, vuccati. Kittāvatā nu kho, āvuso, parihānadhammo puggalo vutto bhagavatā, kittāvatā ca pana aparihānadhammo puggalo vutto bhagavatā”ti?
“Dūratopi kho mayaṁ, āvuso, āgacchāma āyasmato sāriputtassa santike etassa bhāsitassa atthamaññātuṁ. Sādhu vatāyasmantaṁyeva sāriputtaṁ paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Āyasmato sāriputtassa sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Reverends, they speak of an individual liable to decline, and one not liable to decline. But how did the Buddha define an individual liable to decline, and one not liable to decline?”
“Reverend, we would travel a long way to learn the meaning of this statement in the presence of Venerable Sāriputta. May Venerable Sāriputta himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
‘Này chư hiền, người ta nói: “Người có pháp suy giảm, người có pháp suy giảm.” Này chư hiền, người ta nói: “Người có pháp không suy giảm, người có pháp không suy giảm.” Thưa chư hiền, cho đến mức độ nào, người có pháp suy giảm đã được Thế Tôn nói đến? Và cho đến mức độ nào, người có pháp không suy giảm đã được Thế Tôn nói đến?’ ‘Thưa hiền giả, chúng tôi từ phương xa cũng đến đây, đến trước sự hiện diện của Tôn giả Sāriputta để tìm hiểu ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, mong rằng ý nghĩa của lời nói này sẽ được chính Tôn giả Sāriputta làm cho sáng tỏ. Sau khi nghe từ Tôn giả Sāriputta, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.’
“Tenahāvuso, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Then listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Sāriputta said this:
‘Vậy thì, này chư hiền, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.’ Các Tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta: ‘Vâng, thưa hiền giả.’ Tôn giả Sāriputta nói điều này:
“Kittāvatā nu kho, āvuso, parihānadhammo puggalo vutto bhagavatā? Idhāvuso, bhikkhu assutañceva dhammaṁ na suṇāti, sutā cassa dhammā sammosaṁ gacchanti, ye cassa dhammā pubbe cetaso asamphuṭṭhapubbā te cassa na samudācaranti, aviññātañceva na vijānāti. Ettāvatā kho, āvuso, parihānadhammo puggalo vutto bhagavatā.
“How did the Buddha define an individual liable to decline? It’s when a mendicant doesn’t get to hear a teaching they haven’t heard before. They forget those teachings they have heard. They don’t keep exercising the teachings with which they are already familiar. And they don’t come to understand what they haven’t understood before. That’s how the Buddha defined an individual liable to decline.
‘Thưa chư hiền, cho đến mức độ nào, người có pháp suy giảm đã được Thế Tôn nói đến? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu không nghe pháp chưa từng được nghe, và các pháp đã được nghe của vị ấy đi đến chỗ quên lãng, và các pháp nào trước đây chưa từng được tâm tiếp xúc thì các pháp ấy không khởi lên nơi vị ấy, và vị ấy không biết rõ điều chưa được biết. Thưa chư hiền, cho đến chừng ấy, người có pháp suy giảm đã được Thế Tôn nói đến.
Kittāvatā ca panāvuso, aparihānadhammo puggalo vutto bhagavatā? Idhāvuso, bhikkhu assutañceva dhammaṁ suṇāti, sutā cassa dhammā na sammosaṁ gacchanti, ye cassa dhammā pubbe cetaso asamphuṭṭhapubbā te cassa samudācaranti, aviññātañceva vijānāti. Ettāvatā kho, āvuso, aparihānadhammo puggalo vutto bhagavatā.
And how did the Buddha define an individual not liable to decline? It’s when a mendicant gets to hear a teaching they haven’t heard before. They remember those teachings they have heard. They keep exercising the teachings with which they are already familiar. And they come to understand what they haven’t understood before. That’s how the Buddha defined an individual not liable to decline.
‘Và thưa chư hiền, cho đến mức độ nào, người có pháp không suy giảm đã được Thế Tôn nói đến? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu nghe pháp chưa từng được nghe, và các pháp đã được nghe của vị ấy không đi đến chỗ quên lãng, và các pháp nào trước đây chưa từng được tâm tiếp xúc thì các pháp ấy khởi lên nơi vị ấy, và vị ấy biết rõ điều chưa được biết. Thưa chư hiền, cho đến chừng ấy, người có pháp không suy giảm đã được Thế Tôn nói đến.
No ce, āvuso, bhikkhu paracittapariyāyakusalo hoti, atha ‘sacittapariyāyakusalo bhavissāmī’ti—evañhi vo, āvuso, sikkhitabbaṁ.
If a mendicant isn’t skilled in encompassing another’s mind, then they should train themselves: ‘I will be skilled in encompassing my own mind.’
‘Này chư hiền, nếu vị Tỳ khưu không thiện xảo trong việc biết tâm của người khác, thì: “Ta sẽ thiện xảo trong việc biết tâm của chính mình.” Này chư hiền, các vị nên học tập như vậy.
Kathañcāvuso, bhikkhu sacittapariyāyakusalo hoti? Seyyathāpi, āvuso, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno sace tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tasseva rajassa vā aṅgaṇassa vā pahānāya vāyamati. No ce tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tenevattamano hoti paripuṇṇasaṅkappo: ‘lābhā vata me, parisuddhaṁ vata me’ti.
Evameva kho, āvuso, bhikkhuno paccavekkhaṇā bahukārā hoti kusalesu dhammesu: ‘anabhijjhālu nu kho bahulaṁ viharāmi, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no, abyāpannacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no, vigatathinamiddho nu kho bahulaṁ viharāmi, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no, anuddhato nu kho bahulaṁ viharāmi, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no, tiṇṇavicikiccho nu kho bahulaṁ viharāmi, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no, akkodhano nu kho bahulaṁ viharāmi, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no, asaṅkiliṭṭhacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no, lābhī nu khomhi ajjhattaṁ dhammapāmojjassa, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no, lābhī nu khomhi ajjhattaṁ cetosamathassa, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no, lābhī nu khomhi adhipaññādhammavipassanāya, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti.
And how is a mendicant skilled in encompassing their own mind? Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and they check their own reflection in a clean bright mirror or a clear bowl of water. If they see any dirt or blemish there, they’d try to remove it. But if they don’t see any dirt or blemish there, they’re happy with that, as they’ve got all they wished for: ‘How fortunate that I’m clean!’
In the same way, checking is very helpful for a mendicant’s skillful qualities. ‘Is contentment often found in me or not? Is good will often found in me or not? Is freedom from dullness and drowsiness often found in me or not? Is calm often found in me or not? Is confidence often found in me or not? Is love often found in me or not? Is purity of mind often found in me or not? Is internal joy with the teaching found in me or not? Is internal serenity of heart found in me or not? Is the higher wisdom of discernment of principles found in me or not?’
“Này chư hiền, thế nào là vị tỳ khưu thiện xảo về diễn biến tâm của mình? Ví như, này chư hiền, người nữ hay người nam, trẻ trung, thanh xuân, thích trang điểm, khi soi tướng mặt của mình trong tấm gương trong sạch, trong sáng, hoặc trong bát nước trong, nếu thấy ở đấy có bụi bặm hay vết nhơ, người ấy cố gắng để loại bỏ bụi bặm hay vết nhơ ấy. Nếu không thấy ở đấy có bụi bặm hay vết nhơ, người ấy hoan hỷ, mãn nguyện vì điều ấy: ‘Thật là lợi ích cho ta, thật là trong sạch cho ta’. Cũng vậy, này chư hiền, sự quán xét của vị tỳ khưu có nhiều lợi ích trong các thiện pháp: ‘Ta có thường trú với tâm không tham ái chăng, pháp này có trong ta hay không? Ta có thường trú với tâm không sân hận chăng, pháp này có trong ta hay không? Ta có thường trú với tâm không hôn trầm thụy miên chăng, pháp này có trong ta hay không? Ta có thường trú với tâm không trạo cử chăng, pháp này có trong ta hay không? Ta có thường trú với tâm đã vượt qua hoài nghi chăng, pháp này có trong ta hay không? Ta có thường trú với tâm không phẫn nộ chăng, pháp này có trong ta hay không? Ta có thường trú với tâm không ô nhiễm chăng, pháp này có trong ta hay không? Ta có đạt được sự hân hoan trong pháp ở nội tâm chăng, pháp này có trong ta hay không? Ta có đạt được sự tĩnh lặng của tâm ở nội tâm chăng, pháp này có trong ta hay không? Ta có đạt được tuệ quán về pháp thuộc tăng thượng tuệ chăng, pháp này có trong ta hay không?’”
Sace pana, āvuso, bhikkhu paccavekkhamāno sabbepime kusale dhamme attani na samanupassati, tenāvuso, bhikkhunā sabbesaṁyeva imesaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ. Seyyathāpi, āvuso, ādittacelo vā ādittasīso vā. Tasseva celassa vā sīsassa vā nibbāpanāya adhimattaṁ chandañca vāyāmañca ussāhañca ussoḷhiñca appaṭivāniñca satiñca sampajaññañca kareyya. Evamevaṁ kho, āvuso, tena bhikkhunā sabbesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ.
Suppose a mendicant, while checking, doesn’t see any of these skillful qualities in themselves. In order to get them they should apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness. Suppose your clothes or head were on fire. In order to extinguish it, you’d apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness. In the same way, they should apply extraordinary enthusiasm to get those skillful qualities …
“Lại nữa, này chư hiền, nếu vị tỳ khưu khi quán xét không thấy tất cả các thiện pháp này ở nơi mình, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy, để thành tựu tất cả các thiện pháp này, cần phải thực hành ý muốn, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách cao độ. Ví như, này chư hiền, người có y phục bị cháy hoặc đầu bị cháy, để dập tắt lửa trên y phục hay trên đầu ấy, người ấy sẽ thực hành ý muốn, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách cao độ. Cũng vậy, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy, để thành tựu tất cả các thiện pháp này, cần phải thực hành ý muốn, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách cao độ.”
Sace panāvuso, bhikkhu paccavekkhamāno ekacce kusale dhamme attani samanupassati, ekacce kusale dhamme attani na samanupassati, tenāvuso, bhikkhunā ye kusale dhamme attani samanupassati tesu kusalesu dhammesu patiṭṭhāya, ye kusale dhamme attani na samanupassati tesaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ. Seyyathāpi, āvuso, ādittacelo vā ādittasīso vā. Tasseva celassa vā sīsassa vā nibbāpanāya adhimattaṁ chandañca vāyāmañca ussāhañca ussoḷhiñca appaṭivāniñca satiñca sampajaññañca kareyya. Evamevaṁ kho, āvuso, tena bhikkhunā ye kusale dhamme attani samanupassati tesu kusalesu dhammesu patiṭṭhāya, ye kusale dhamme attani na samanupassati tesaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ.
Suppose a mendicant, while checking, sees some of these skillful qualities in themselves, but doesn’t see others. Grounded on the skillful qualities they see, they should apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness in order to get the skillful qualities they don’t see. Suppose your clothes or head were on fire. In order to extinguish it, you’d apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness. In the same way, grounded on the skillful qualities they see, they should apply extraordinary enthusiasm to get those skillful qualities they don’t see.
“Lại nữa, này chư hiền, nếu vị tỳ khưu khi quán xét thấy một số thiện pháp ở nơi mình, và không thấy một số thiện pháp ở nơi mình, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy, sau khi an trú vào các thiện pháp mà vị ấy thấy ở nơi mình, để thành tựu các thiện pháp mà vị ấy không thấy ở nơi mình, cần phải thực hành ý muốn, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách cao độ. Ví như, này chư hiền, người có y phục bị cháy hoặc đầu bị cháy, để dập tắt lửa trên y phục hay trên đầu ấy, người ấy sẽ thực hành ý muốn, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách cao độ. Cũng vậy, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy, sau khi an trú vào các thiện pháp mà vị ấy thấy ở nơi mình, để thành tựu các thiện pháp mà vị ấy không thấy ở nơi mình, cần phải thực hành ý muốn, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách cao độ.”
Sace panāvuso, bhikkhu paccavekkhamāno sabbepime kusale dhamme attani samanupassati, tenāvuso, bhikkhunā sabbesveva imesu kusalesu dhammesu patiṭṭhāya uttari āsavānaṁ khayāya yogo karaṇīyo”ti.
Pañcamaṁ.
But suppose a mendicant, while checking, sees all of these skillful qualities in themselves. Grounded on all these skillful qualities they should practice meditation further to end the defilements.”
“Lại nữa, này chư hiền, nếu vị tỳ khưu khi quán xét thấy tất cả các thiện pháp này ở nơi mình, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy, sau khi an trú vào tất cả các thiện pháp này, cần phải nỗ lực hơn nữa để đoạn tận các lậu hoặc.” (Kinh) thứ năm.