- Aṅguttara Nikāya 10.53
- 6. Sacittavagga
Ṭhitisutta
“Ṭhitimpāhaṁ, bhikkhave, na vaṇṇayāmi kusalesu dhammesu, pageva parihāniṁ. Vuḍḍhiñca kho ahaṁ, bhikkhave, vaṇṇayāmi kusalesu dhammesu, no ṭhitiṁ no hāniṁ.
Bản dịch
Ṭhitisutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỷ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tổn giảm trong các thiện pháp, đứng một chỗ, không tăng trưởng?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo đang cố gắng để đạt được lòng tin, giới đức, nghe nhiều, bố thí, biện tài với trí tuệ. Các pháp ấy đối với vị này đứng một chỗ, không tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, Ta gọi như vậy là tổn giảm trong các thiện pháp, đứng một chỗ, không tăng trưởng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là tổn giảm trong các thiện pháp, đứng một chỗ, không tăng trưởng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đứng một chỗ trong các thiện pháp, không tổn giảm, không tăng trưởng?
TTC 3—Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cố gắng để đạt được lòng tin, giới đức, nghe nhiều, bố thí và biện tài với trí tuệ. Những pháp ấy đối với vị này, không tổn giảm, không tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, Ta gọi như vậy là đứng một chỗ trong các thiện pháp, không tổn giảm, không tăng trưởng. Như vậy, này các Tỷ kheo là đứng một chỗ trong các thiện pháp, không tổn giảm, không tăng trưởng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cố gắng để đạt được lòng tin, giới đức, nghe nhiều, bố thí và biện tài với trí tuệ. Những pháp ấy đối với vị này không đứng một chỗ, không tổn giảm. Này các Tỷ-kheo, Ta gọi như vậy là tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, dầu Tỷ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thời cần phải nguyện rằng: “Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình? (như kinh 51, từ đoạn số 3, 4, 5).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Ṭhitimpāhaṁ, bhikkhave, na vaṇṇayāmi kusalesu dhammesu, pageva parihāniṁ. Vuḍḍhiñca kho ahaṁ, bhikkhave, vaṇṇayāmi kusalesu dhammesu, no ṭhitiṁ no hāniṁ.
“Mendicants, I don’t praise stagnation in skillful qualities, let alone decline. I praise growth in skillful qualities, not stagnation or decline.
53. Này các tỳ khưu, Ta không tán thán sự trụ lại trong các thiện pháp, huống nữa là sự suy giảm. Này các tỳ khưu, Ta chỉ tán thán sự tăng trưởng trong các thiện pháp, chứ không tán thán sự trụ lại, không tán thán sự suy giảm.
Kathañca, bhikkhave, hāni hoti kusalesu dhammesu, no ṭhiti no vuḍḍhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu yattako hoti saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānena, tassa te dhammā neva tiṭṭhanti no vaḍḍhanti. Hānimetaṁ, bhikkhave, vadāmi kusalesu dhammesu, no ṭhitiṁ no vuḍḍhiṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, hāni hoti kusalesu dhammesu, no ṭhiti no vuḍḍhi.
And how is there decline in skillful qualities, not stagnation or growth? It’s when a mendicant has a certain degree of faith, ethics, generosity, wisdom, and eloquence. Those qualities neither stagnate nor grow in them. I call this decline in skillful qualities, not stagnation or growth. This is how there’s decline in skillful qualities, not stagnation or growth.
Và này các tỳ khưu, thế nào là sự suy giảm trong các thiện pháp, không có sự trụ lại, không có sự tăng trưởng? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có được mức độ nào về tín, giới, văn, thí, tuệ, biện tài, thì các pháp ấy của vị ấy không trụ lại cũng không tăng trưởng. Này các tỳ khưu, Ta gọi đây là sự suy giảm trong các thiện pháp, không phải là sự trụ lại, không phải là sự tăng trưởng. Như vậy, này các tỳ khưu, là có sự suy giảm trong các thiện pháp, không có sự trụ lại, không có sự tăng trưởng.
Kathañca, bhikkhave ṭhiti hoti kusalesu dhammesu, no hāni no vuḍḍhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu yattako hoti saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānena, tassa te dhammā neva hāyanti no vaḍḍhanti. Ṭhitimetaṁ, bhikkhave, vadāmi kusalesu dhammesu, no hāniṁ no vuḍḍhiṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, ṭhiti hoti kusalesu dhammesu, no vuḍḍhi no hāni.
And how is there stagnation in skillful qualities, not decline or growth? It’s when a mendicant has a certain degree of faith, ethics, generosity, wisdom, and eloquence. Those qualities neither decline nor grow in them. I call this stagnation in skillful qualities, not decline or growth. This is how there’s stagnation in skillful qualities, not decline or growth.
Và này các tỳ khưu, thế nào là sự trụ lại trong các thiện pháp, không có sự suy giảm, không có sự tăng trưởng? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có được mức độ nào về tín, giới, văn, thí, tuệ, biện tài, thì các pháp ấy của vị ấy không suy giảm cũng không tăng trưởng. Này các tỳ khưu, Ta gọi đây là sự trụ lại trong các thiện pháp, không phải là sự suy giảm, không phải là sự tăng trưởng. Như vậy, này các tỳ khưu, là có sự trụ lại trong các thiện pháp, không có sự tăng trưởng, không có sự suy giảm.
Kathañca, bhikkhave, vuḍḍhi hoti kusalesu dhammesu, no ṭhiti no hāni? Idha, bhikkhave, bhikkhu yattako hoti saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānena, tassa te dhammā neva tiṭṭhanti no hāyanti. Vuḍḍhimetaṁ, bhikkhave, vadāmi kusalesu dhammesu, no ṭhitiṁ no hāniṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, vuḍḍhi hoti kusalesu dhammesu, no ṭhiti no hāni.
And how is there growth in skillful qualities, not stagnation or decline? It’s when a mendicant has a certain degree of faith, ethics, generosity, wisdom, and eloquence. Those qualities neither stagnate nor decline in them. I call this growth in skillful qualities, not stagnation or decline. This is how there’s growth in skillful qualities, not stagnation or decline.
“Này các tỳ khưu, thế nào là có sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không có sự đứng lại, không có sự suy giảm? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có được chừng nào về đức tin, về giới hạnh, về sự học hỏi, về sự xả ly, về trí tuệ, về biện tài, thì các pháp ấy của vị ấy không đứng lại cũng không suy giảm. Này các tỳ khưu, Như Lai gọi đó là sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải là sự đứng lại, không phải là sự suy giảm. Này các tỳ khưu, như vậy là có sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không có sự đứng lại, không có sự suy giảm.”
No ce, bhikkhave, bhikkhu paracittapariyāyakusalo hoti, atha ‘sacittapariyāyakusalo bhavissāmī’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
If a mendicant isn’t skilled in encompassing another’s mind, then they should train themselves: ‘I will be skilled in encompassing my own mind.’
“Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu không thiện xảo trong việc biết tâm của người khác, thì này các tỳ khưu, các ngươi nên học tập như vầy: ‘Ta sẽ là người thiện xảo trong việc biết tâm của mình’.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sacittapariyāyakusalo hoti? Seyyathāpi, bhikkhave, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno sace tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tasseva rajassa vā aṅgaṇassa vā pahānāya vāyamati. No ce tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tenevattamano hoti paripuṇṇasaṅkappo: ‘lābhā vata me, parisuddhaṁ vata me’ti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇā bahukārā hoti kusalesu dhammesu: ‘abhijjhālu nu kho bahulaṁ viharāmi, anabhijjhālu nu kho bahulaṁ viharāmi, byāpannacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, abyāpannacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, thinamiddhapariyuṭṭhito nu kho bahulaṁ viharāmi, vigatathinamiddho nu kho bahulaṁ viharāmi, uddhato nu kho bahulaṁ viharāmi, anuddhato nu kho bahulaṁ viharāmi, vicikiccho nu kho bahulaṁ viharāmi, tiṇṇavicikiccho nu kho bahulaṁ viharāmi, kodhano nu kho bahulaṁ viharāmi, akkodhano nu kho bahulaṁ viharāmi, saṅkiliṭṭhacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, asaṅkiliṭṭhacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, sāraddhakāyo nu kho bahulaṁ viharāmi, asāraddhakāyo nu kho bahulaṁ viharāmi, kusīto nu kho bahulaṁ viharāmi, āraddhavīriyo nu kho bahulaṁ viharāmi, samāhito nu kho bahulaṁ viharāmi, asamāhito nu kho bahulaṁ viharāmī’ti.
And how is a mendicant skilled in encompassing their own mind? Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and they check their own reflection in a clean bright mirror or a clear bowl of water. If they see any dirt or blemish there, they’d try to remove it. But if they don’t see any dirt or blemish there, they’re happy with that, as they’ve got all they wished for: ‘How fortunate that I’m clean!’ In the same way, checking is very helpful for a mendicant’s skillful qualities. ‘Am I often covetous or not? Am I often malicious or not? Am I often overcome with dullness and drowsiness or not? Am I often restless or not? Am I often doubtful or not? Am I often irritable or not? Am I often corrupted in mind or not? Am I often disturbed in body or not? Am I often energetic or not? Am I often immersed in samādhi or not?’
“Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu thiện xảo trong việc biết tâm của mình? Này các tỳ khưu, ví như người nữ hay người nam, trẻ trung, thanh xuân, thích trang điểm, khi soi bóng mặt của mình trong tấm gương trong sạch, sáng loáng, hoặc trong bát nước trong, nếu thấy ở đó có bụi bặm hay vết nhơ thì nỗ lực để loại trừ bụi bặm hay vết nhơ ấy. Nếu không thấy ở đó có bụi bặm hay vết nhơ thì do vậy mà hoan hỷ, tâm nguyện được viên mãn: ‘Thật là lợi ích cho ta! Thật là trong sạch cho ta!’. Cũng thế ấy, này các tỳ khưu, sự quán xét của vị tỳ khưu có nhiều lợi ích cho các thiện pháp: ‘Ta có thường trú với tâm tham ái không, hay ta thường trú với tâm không tham ái? Ta có thường trú với tâm sân hận không, hay ta thường trú với tâm không sân hận? Ta có thường trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm không, hay ta thường trú với tâm đã thoát ly hôn trầm thụy miên? Ta có thường trú với tâm trạo cử không, hay ta thường trú với tâm không trạo cử? Ta có thường trú với tâm hoài nghi không, hay ta thường trú với tâm đã vượt qua hoài nghi? Ta có thường trú với tâm phẫn nộ không, hay ta thường trú với tâm không phẫn nộ? Ta có thường trú với tâm ô nhiễm không, hay ta thường trú với tâm không ô nhiễm? Ta có thường trú với thân bứt rứt không, hay ta thường trú với thân không bứt rứt? Ta có thường trú với tâm biếng nhác không, hay ta thường trú với tâm tinh tấn? Ta có thường trú với tâm định tĩnh không, hay ta thường trú với tâm không định tĩnh?’.”
Sace, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘abhijjhālu bahulaṁ viharāmi, byāpannacitto bahulaṁ viharāmi, thinamiddhapariyuṭṭhito bahulaṁ viharāmi, uddhato bahulaṁ viharāmi, vicikiccho bahulaṁ viharāmi, kodhano bahulaṁ viharāmi, saṅkiliṭṭhacitto bahulaṁ viharāmi, sāraddhakāyo bahulaṁ viharāmi, kusīto bahulaṁ viharāmi, asamāhito bahulaṁ viharāmī’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ. Seyyathāpi, bhikkhave, ādittacelo vā ādittasīso vā. Tasseva celassa vā sīsassa vā nibbāpanāya adhimattaṁ chandañca vāyāmañca ussāhañca ussoḷhiñca appaṭivāniñca satiñca sampajaññañca kareyya; evamevaṁ kho, bhikkhave, tena bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ.
Suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘I am often covetous, malicious, overcome with dullness and drowsiness, restless, doubtful, irritable, corrupted in mind, disturbed in body, lazy, and not immersed in samādhi.’ In order to give up those bad, unskillful qualities, they should apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness. Suppose your clothes or head were on fire. In order to extinguish it, you’d apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness. In the same way, in order to give up those bad, unskillful qualities, that mendicant should apply extraordinary enthusiasm …
“Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu khi quán xét biết như vầy: ‘Ta thường trú với tâm tham ái, ta thường trú với tâm sân hận, ta thường trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, ta thường trú với tâm trạo cử, ta thường trú với tâm hoài nghi, ta thường trú với tâm phẫn nộ, ta thường trú với tâm ô nhiễm, ta thường trú với thân bứt rứt, ta thường trú với tâm biếng nhác, ta thường trú với tâm không định tĩnh’, thì này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên thực hành ước muốn, nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách phi thường để đoạn trừ chính các pháp ác, bất thiện ấy. Này các tỳ khưu, ví như người có áo bị cháy hay đầu bị cháy, người ấy sẽ thực hành ước muốn, nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách phi thường để dập tắt lửa trên áo hay trên đầu ấy; cũng thế ấy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên thực hành ước muốn, nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách phi thường để đoạn trừ chính các pháp ác, bất thiện ấy.”
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘anabhijjhālu bahulaṁ viharāmi, abyāpannacitto bahulaṁ viharāmi, vigatathinamiddho bahulaṁ viharāmi, anuddhato bahulaṁ viharāmi, tiṇṇavicikiccho bahulaṁ viharāmi, akkodhano bahulaṁ viharāmi, asaṅkiliṭṭhacitto bahulaṁ viharāmi, asāraddhakāyo bahulaṁ viharāmi, āraddhavīriyo bahulaṁ viharāmi, samāhito bahulaṁ viharāmī’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesuyeva kusalesu dhammesu patiṭṭhāya uttari āsavānaṁ khayāya yogo karaṇīyo”ti.
Tatiyaṁ.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘I am often content, kind-hearted, rid of dullness and drowsiness, calm, confident, loving, pure in mind, undisturbed in body, energetic, and immersed in samādhi.’ Grounded on those skillful qualities, they should practice meditation further to end the defilements.”
“Nhưng này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu khi quán xét biết như vầy: ‘Ta thường trú với tâm không tham ái, ta thường trú với tâm không sân hận, ta thường trú với tâm đã thoát ly hôn trầm thụy miên, ta thường trú với tâm không trạo cử, ta thường trú với tâm đã vượt qua hoài nghi, ta thường trú với tâm không phẫn nộ, ta thường trú với tâm không ô nhiễm, ta thường trú với thân không bứt rứt, ta thường trú với tâm tinh tấn, ta thường trú với tâm định tĩnh’, thì này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên an trú vào chính các thiện pháp ấy rồi thực hành sự nỗ lực hơn nữa để đoạn tận các lậu hoặc.” Hết kinh thứ ba.