- Aṅguttara Nikāya 10.52
- 6. Sacittavagga
Bản dịch
AN 10.52 — Tâm Của Mình (2)
Sāriputtasutta
TTC 1Rồi Tôn giả Sàriputta nói với các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền giả!
—Thưa vâng Tôn giả.
Các Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau: (giống như kinh trước, chỉ khác đây là Tôn giả Sàriputta nói với các Tỷ-kheo).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.52
- 6. Your Own Mind
With Sāriputta
2. Kinh Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
There Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
52. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta gọi các tỳ khưu: ‘Này chư hiền tỳ khưu.’ Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta: ‘Thưa hiền giả.’ Tôn giả Sāriputta nói điều này:
“No ce, āvuso, bhikkhu paracittapariyāyakusalo hoti, atha ‘sacittapariyāyakusalo bhavissāmī’ti—evañhi vo, āvuso, sikkhitabbaṁ.
“Reverends, if a mendicant isn’t skilled in encompassing another’s mind, then they should train themselves: ‘I will be skilled in encompassing my own mind.’
Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu không thiện xảo trong việc biết tâm của người khác, thì này chư hiền, các vị nên học tập rằng: ‘Ta sẽ là người thiện xảo trong việc biết tâm của chính mình.’
Kathañcāvuso, bhikkhu sacittapariyāyakusalo hoti? Seyyathāpi, āvuso, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno sace tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tasseva rajassa vā aṅgaṇassa vā pahānāya vāyamati. No ce tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tenevattamano hoti paripuṇṇasaṅkappo: ‘lābhā vata me, parisuddhaṁ vata me’ti.
And how is a mendicant skilled in encompassing their own mind? Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and they check their own reflection in a clean bright mirror or a clear bowl of water. If they see any dirt or blemish there, they’d try to remove it. But if they don’t see any dirt or blemish there, they’re happy with that, as they’ve got all they wished for: ‘How fortunate that I’m clean!’
Và này chư hiền, thế nào là vị tỳ khưu thiện xảo trong việc biết tâm của chính mình? Này chư hiền, ví như người phụ nữ hay người đàn ông, trẻ trung, thanh xuân, thích trang điểm, khi xem tướng mặt của mình trong tấm gương trong sạch, sáng loáng, hoặc trong bát nước trong, nếu thấy ở đó có bụi bặm hay vết nhơ, người ấy sẽ cố gắng để loại bỏ bụi bặm hay vết nhơ ấy. Nếu không thấy ở đó có bụi bặm hay vết nhơ, người ấy sẽ hoan hỷ, mãn nguyện rằng: ‘Thật là lợi ích cho ta! Thật là trong sạch cho ta!’
Evamevaṁ kho, āvuso, bhikkhuno paccavekkhaṇā bahukārā hoti kusalesu dhammesu: ‘abhijjhālu nu kho bahulaṁ viharāmi, anabhijjhālu nu kho bahulaṁ viharāmi, byāpannacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, abyāpannacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, thinamiddhapariyuṭṭhito nu kho bahulaṁ viharāmi, vigatathinamiddho nu kho bahulaṁ viharāmi, uddhato nu kho bahulaṁ viharāmi, anuddhato nu kho bahulaṁ viharāmi, vicikiccho nu kho bahulaṁ viharāmi, tiṇṇavicikiccho nu kho bahulaṁ viharāmi, kodhano nu kho bahulaṁ viharāmi, akkodhano nu kho bahulaṁ viharāmi, saṅkiliṭṭhacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, asaṅkiliṭṭhacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, sāraddhakāyo nu kho bahulaṁ viharāmi, asāraddhakāyo nu kho bahulaṁ viharāmi, kusīto nu kho bahulaṁ viharāmi, āraddhavīriyo nu kho bahulaṁ viharāmi, samāhito nu kho bahulaṁ viharāmi, asamāhito nu kho bahulaṁ viharāmī’ti.
In the same way, checking is very helpful for a mendicant’s skillful qualities. ‘Am I often covetous or not? Am I often malicious or not? Am I often overcome with dullness and drowsiness or not? Am I often restless or not? Am I often doubtful or not? Am I often irritable or not? Am I often corrupted in mind or not? Am I often disturbed in body or not? Am I often energetic or not? Am I often immersed in samādhi or not?’
Cũng vậy, này chư hiền, sự quán xét của vị tỳ khưu là rất hữu ích đối với các thiện pháp: ‘Ta có thường trú với tâm tham ái không, hay ta thường trú với tâm không tham ái? Ta có thường trú với tâm sân hận không, hay ta thường trú với tâm không sân hận? Ta có thường trú với tâm bị hôn trầm thụy miên chi phối không, hay ta thường trú với tâm không hôn trầm thụy miên? Ta có thường trú với tâm trạo cử không, hay ta thường trú với tâm không trạo cử? Ta có thường trú với tâm hoài nghi không, hay ta thường trú với tâm đã vượt qua hoài nghi? Ta có thường trú với tâm phẫn nộ không, hay ta thường trú với tâm không phẫn nộ? Ta có thường trú với tâm ô nhiễm không, hay ta thường trú với tâm không ô nhiễm? Ta có thường trú với thân bứt rứt không, hay ta thường trú với thân không bứt rứt? Ta có thường trú với tâm biếng nhác không, hay ta thường trú với tinh tấn đã được phát khởi? Ta có thường trú với tâm không định tĩnh không, hay ta thường trú với tâm định tĩnh?’
Sace, āvuso, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘abhijjhālu bahulaṁ viharāmi …pe… asamāhito bahulaṁ viharāmī’ti, tenāvuso, bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ. Seyyathāpi, āvuso, ādittacelo vā ādittasīso vā. Tasseva celassa vā sīsassa vā nibbāpanāya adhimattaṁ chandañca vāyāmañca ussāhañca ussoḷhiñca appaṭivāniñca satiñca sampajaññañca kareyya. Evamevaṁ kho, āvuso, tena bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ.
Suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘I am often covetous, malicious, overcome with dullness and drowsiness, restless, doubtful, irritable, defiled in mind, disturbed in body, lazy, and not immersed in samādhi.’ In order to give up those bad, unskillful qualities, they should apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness. Suppose your clothes or head were on fire. In order to extinguish it, you’d apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness. In the same way, in order to give up those bad, unskillful qualities, that mendicant should apply extraordinary enthusiasm …
Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trong khi quán xét biết được như vầy: ‘Ta thường trú với tâm tham ái... cho đến... ta thường trú với tâm không định tĩnh,’ thì này chư hiền, vị tỳ khưu ấy nên thực hành ước muốn, nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách phi thường để đoạn trừ chính các pháp ác, bất thiện ấy. Này chư hiền, ví như người có y phục hay đầu bị cháy, người ấy sẽ thực hành ước muốn, nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách phi thường để dập tắt lửa trên y phục hay trên đầu của mình. Cũng vậy, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy nên thực hành ước muốn, nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, không thối chuyển, chánh niệm, và tỉnh giác một cách phi thường để đoạn trừ chính các pháp ác, bất thiện ấy.
Sace panāvuso, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘anabhijjhālu bahulaṁ viharāmi …pe… samāhito bahulaṁ viharāmī’ti, tenāvuso, bhikkhunā tesuyeva kusalesu dhammesu patiṭṭhāya uttari āsavānaṁ khayāya yogo karaṇīyo”ti.
Dutiyaṁ.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘I am often content, kind-hearted, rid of dullness and drowsiness, calm, confident, loving, pure in mind, undisturbed in body, energetic, and immersed in samādhi.’ Grounded on those skillful qualities, they should practice meditation further to end the defilements.”
Và này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trong khi quán xét biết được như vầy: ‘Ta thường trú với tâm không tham ái... cho đến... ta thường trú với tâm định tĩnh,’ thì này chư hiền, vị tỳ khưu ấy sau khi đã an trú vào chính các thiện pháp ấy, nên nỗ lực hơn nữa để đoạn tận các lậu hoặc. Hết kinh thứ hai.