- Aṅguttara Nikāya 10.40
- 4. Upālivagga
Bản dịch
AN 10.40 — Quả Do Hòa Hợp Tăng Ðưa Lại
Dutiyaānandasutta
TTC 1—Bạch Thế Tôn, với chúng Tăng bị phá, làm cho hòa hợp lại, đem đến kết quả gì?
TTC 2—Này Ananda, đem đến Phạm công đức!
TTC 3—Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm công đức?
TTC 4—Này Ananda, trong một kiếp, được sống hoan hỷ ở Thiên giới.
Sống an lạc là người,
Làm hòa hợp chúng Tăng;
Sống an lạc là người,
Giúp chúng Tăng hòa hợp;
Ưa thích sự hòa hợp,
An trú trên Chánh pháp.
Ai khiến cho chúng Tăng,
Ðược sống trong hòa hợp,
Trong một kiếp, người ấy
Sống hoan hỷ Thiên giới.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.40
- 4. With Upāli
With Ānanda (2nd)
10. Kinh Ānanda thứ hai
“‘Saṅghasāmaggī, saṅghasāmaggī’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, saṅgho samaggo hotī”ti?
“Idhānanda, bhikkhū adhammaṁ adhammoti dīpenti, dhammaṁ dhammoti dīpenti, avinayaṁ avinayoti dīpenti, vinayaṁ vinayoti dīpenti, abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpenti, bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpenti, anāciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpenti, āciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpenti, apaññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpenti, paññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpenti. Te imehi dasahi vatthūhi na avakassanti na apakassanti na āveni kammāni karonti na āveni pātimokkhaṁ uddisanti. Ettāvatā kho, ānanda, saṅgho samaggo hotī”ti.
“Sir, they speak of ‘harmony in the Saṅgha’. How is harmony in the Saṅgha defined?”
“Ānanda, it’s when a mendicant explains what is not the teaching as not the teaching, and what is the teaching as the teaching. They explain what is not the training as not the training, and what is the training as the training. They explain what was not spoken and stated by the Realized One as not spoken and stated by the Realized One, and what was spoken and stated by the Realized One as spoken and stated by the Realized One. They explain what was not practiced by the Realized One as not practiced by the Realized One, and what was practiced by the Realized One as practiced by the Realized One. They explain what was not prescribed by the Realized One as not prescribed by the Realized One, and what was prescribed by the Realized One as prescribed by the Realized One. On these ten grounds they don’t split off and go their own way. They don’t perform legal acts autonomously or recite the monastic code autonomously. That is how harmony in the Saṅgha is defined.”
40. “Bạch ngài, được gọi là: ‘Sự hòa hợp của Tăng chúng, sự hòa hợp của Tăng chúng.’ Bạch ngài, cho đến mức độ nào thì Tăng chúng được hòa hợp?” “Này Ānanda, ở đây các tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là phi Pháp, trình bày điều là Pháp là Pháp, trình bày điều phi Luật là phi Luật, trình bày điều là Luật là Luật, trình bày điều không được Như Lai nói ra, không được Như Lai tuyên bố là ‘điều không được Như Lai nói ra, không được Như Lai tuyên bố,’ trình bày điều được Như Lai nói ra, được Như Lai tuyên bố là ‘điều được Như Lai nói ra, được Như Lai tuyên bố,’ trình bày điều không được Như Lai thực hành là ‘điều không được Như Lai thực hành,’ trình bày điều được Như Lai thực hành là ‘điều được Như Lai thực hành,’ trình bày điều không được Như Lai chế định là ‘điều không được Như Lai chế định,’ trình bày điều được Như Lai chế định là ‘điều được Như Lai chế định.’ Do mười sự việc này, họ không lôi kéo, không tách riêng, không thực hiện các yết-ma riêng rẽ, không đọc tụng Pātimokkha riêng rẽ. Này Ānanda, cho đến mức độ ấy, Tăng chúng được hòa hợp.”
“Bhinnaṁ pana, bhante, saṅghaṁ samaggaṁ katvā kiṁ so pasavatī”ti?
“Brahmaṁ, ānanda, puññaṁ pasavatī”ti.
“Kiṁ pana, bhante, brahmaṁ puññan”ti?
“Kappaṁ, ānanda, saggamhi modatīti—
“But sir, what does someone who has forged harmony in a schismatic Saṅgha brim with?”
“They brim with divine merit.”
“But what is divine merit?”
“They rejoice in heaven for an eon, Ānanda.
“Bạch ngài, sau khi làm cho Tăng chúng bị chia rẽ được hòa hợp, người ấy tạo ra điều gì?” “Này Ānanda, người ấy tạo ra phước báu cao thượng.” “Bạch ngài, phước báu cao thượng là gì?” “Này Ānanda, là được hoan hỷ ở cõi trời suốt một kiếp –”
Sukhā saṅghassa sāmaggī, samaggānañca anuggaho; Samaggarato dhammaṭṭho, yogakkhemā na dhaṁsati; Saṅghaṁ samaggaṁ katvāna, kappaṁ saggamhi modatī”ti.
Dasamaṁ.
A Saṅgha in harmony is happy, as is support for those in harmony. Taking a stand on the teaching, favoring harmony, they ruin no sanctuary. After forging harmony in the Saṅgha, they rejoice in heaven for an eon.”
“Sự hòa hợp của Tăng chúng là an lạc, và sự nâng đỡ những vị hòa hợp (cũng là an lạc). Người ưa thích sự hòa hợp, đứng vững trong Pháp, không bị rơi khỏi sự an ổn khỏi các ách縛. Sau khi làm cho Tăng chúng được hòa hợp, người ấy được hoan hỷ ở cõi trời suốt một kiếp.” (Kinh) thứ mười.
Upālivaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Upāli, thứ tư.
Upāli ṭhapanā ubbāho, upasampadanissayā; Sāmaṇero ca dve bhedā, ānandehi pare duveti.
Upāli, Đình Chỉ, Truất Phế, Cụ Túc và Nương Tựa; Sa-di và hai kinh về Chia Rẽ, hai kinh khác do Ānanda hỏi.