- Aṅguttara Nikāya 10.29
- 3. Mahāvagga
Bản dịch
AN 10.29 — Người Kosalà
Paṭhamakosalasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, xa trông như thế nào là nước Kàsi Kosalà, xa rộng như thế nào, là sự trị vì của vua Pasanadi nước Kosalà, trong phạm vi như vậy, vua Pasenadi nước Kosalà được xem là tối thượng. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vua Pasenadi, nước Kosalà có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong (vấn đề) ấy; do nhàm chán trong (vấn đề) ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, xa cho đến mặt trăng, mặt trời di chuyển, xoay chuyển, chói sáng các phương, cho đến như vậy là ngàn thế giới. Trong ngàn thế giới ấy, có 1.000 mặt trăng, có 1000 mặt trời, có 1000 vua núi Sineru, có 1000 cõi Diêm phù đề, 1000 Tây ngưu Hóa châu, 1000 Bắc-cu-lô-chân, 1000 Ðông thắng Thần châu, 4000 biển lớn, 4000 Ðại vương, 1000 Bốn đại Thiên vương, 1000 Tam thập tam thiên, 1000 Dạ-ma-thiên, 1000 Ðâu-suất thiên, 1000 Hóa lạc thiên, 1000 Tha hóa Tự tại thiên, 1000 Phạm thiên giới. Này các Tỷ-kheo, xa rộng cho đến 1000 thế giới, Ðại phạm Thiên ở đấy được xem là tối thượng. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Ðại Phạm thiên có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong (Ðại Phạm thiên) ấy, do nhàm chán trong (Ðại Phạm thiên) ấy, từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 3Này các Tỳ-kheo, có một thời, đến thời ấy, thế giới này chuyển hoại, trong khi thế giới chuyển hoại, này các Tỷ-kheo, các loài hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang âm thiên). Ở tại đấy, chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này các Tỷ-kheo, trong khi thế giới chuyển hoại, các Quang âm thiên được xem là tối thượng. Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với chư Quang âm thiên, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong (chư Quang âm thiên) ấy; do nhàm chán trong (Quang âm thiên) ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, có mười Thiền án xứ này. Thế nào là mười?
Một người tưởng tri Thiền án đất, phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng. Một người tưởng tri Thiền án nước… một người tưởng tri Thiền án lửa… một người tưởng tri Thiền án gió, một người tưởng tri Thiền án xanh… một người tưởng tri Thiền án vàng… một người tưởng tri Thiền án đỏ… một người tưởng tri Thiền án trắng… một người tưởng tri Thiền án hư không… một người tưởng tri Thiền án thức, phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng.
Này các Tỷ-kheo, có mười Thiền án xứ này.
TTC 5Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong mười Thiền án xứ này, tức là Thiền án thức. Có người tưởng tri phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Ðối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong ấy; do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì với hạ liệt.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này. Thế nào là tám?
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ nhất.
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thư hai.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, Ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ ba.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ tư.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta thấy, ta biết”. Ðó là thắng xứ thứ năm.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như bông kannikàra màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như lụa Ba-la-nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoài sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ sáu.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ—như bông bandhujìvaka màu đỏ, như lụa Ba-la-nại, cả ai mặt láng trơn, màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ,…ánh sáng đỏ. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ bảy.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như sao mai Osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng thứ tám.
Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này.
TTC 7Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong tám thắng xứ này, tức là có người tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng màu trắng, hình sắc màu trắng, ánh sáng trắng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Ðối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nó gì đối với hạ liệt.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, có bốn con đường này. Thế nào là bốn?
Con đường khổ thắng tri chậm; con đường khổ thắng tri mau; con đường lạc thắng tri chậm; con đường lạc thắng tri mau.
Này các Tỷ-kheo, có bốn con đường này.
TTC 9Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong bốn con đường này, tức là con đường lạc thắng tri mau. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh thực hành như vậy. Ðối với các chúng sanh thực hành như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng này. Thế nào là bốn?
Có người tưởng tri có hạn lượng. Có người tưởng tri đại hành. Có người tưởng tri vô lượng. Có người tưởng tri Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Không có sự vật gì”.
Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng này.
TTC 11Các này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong bốn tưởng này, tức là có người tưởng tri Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Không có sự vật gì”. Này các Tỷ-kheo có những chúng sanh có tưởng như vậy. Ðối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến thoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 12Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các thành kiến của các dị học, tức là: “Nếu ta không có trong lúc ấy, thời nay đã không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”. Với người có tri kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, có thể chờ đợi như sau: Sự không nhàm chán này đối với hữu sẽ không có đối với người ấy. Sự nhàm chán này đối với hữu diệt sẽ không có đối với người ấy. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tri kiến như vậy. Ðối với chúng sanh có tri kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với các hạ liệt.
TTC 13Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn… tuyên bố thanh tịnh là mục đích tối thắng.
TTC 14Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các vị tuyên bố thanh tịnh là mục đích tối thắng, tức là sự vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, sự chứng đạt và an trú Phi tưởng phi tưởng xứ. Họ thuyết pháp để thắng tri cái ấy, để giác ngộ cái ấy. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, đối với các chúng sanh có nói như vậy, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì với các hạ liệt.
TTC 15Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Ba-la-môn… tuyên bố hiện tại Niết-bàn là mục đích tối thắng.
TTC 16Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các vị tuyên bố hiện tại Niết-bàn là mục đích tối thắng, tức là sau khi như thật sự tập khởi, sự chấm dứt vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xúc xứ, được giải thoát không có chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, Ta là người đã nói như vậy, đã tuyên bố như vậy. Và một số Sa-môn, Ba-la-môn xuyên tạc Ta với điều không thật là phi hữu, trống không, nói láo, nói rằng: “Sa-môn Gotama không tuyên bố sự liễu tri các dục, không tuyên bố sự liễu tri các sắc, không tuyên bố sự liễu tri các thọ”.
TTC 17Và này các Tỷ-kheo, ta tuyên bố sự liễu tri các dục, Ta tuyên bố sự liễu tri các sắc, ta tuyên bố sự liễu tri các thọ, Ta tuyên bố ngay trong hiện tại sự vô dục, tịch diệt, thanh lương không chấp thủ, Bát-niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.29
- 3. The Great Chapter
Kosala (1st)
9. Kinh Kosala Thứ Nhất
“Yāvatā, bhikkhave, kāsikosalā, yāvatā rañño pasenadissa kosalassa vijitaṁ, rājā tattha pasenadi kosalo aggamakkhāyati. Raññopi kho, bhikkhave, pasenadissa kosalassa attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati. Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
“As far as Kāsi and Kosala extend, and as far as the dominion of King Pasenadi of Kosala extends, King Pasenadi is said to be the foremost. But even King Pasenadi decays and perishes.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with it. Their desire fades away even for the foremost, let alone the inferior.
29. “Này các tỳ-khưu, trong toàn cõi xứ Kāsi và Kosala, trong toàn lãnh thổ của vua Pasenadi xứ Kosala, vua Pasenadi xứ Kosala được xem là tối thượng. Này các tỳ-khưu, ngay cả vua Pasenadi xứ Kosala cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Này các tỳ-khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều liền nhàm chán đối với điều ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham đối với điều tối thượng, huống nữa là đối với điều thấp kém.
Yāvatā, bhikkhave, candimasūriyā pariharanti disā bhanti virocamānā, tāva sahassadhā loko. Tasmiṁ sahassadhā loke sahassaṁ candānaṁ sahassaṁ sūriyānaṁ sahassaṁ sinerupabbatarājānaṁ sahassaṁ jambudīpānaṁ sahassaṁ aparagoyānānaṁ sahassaṁ uttarakurūnaṁ sahassaṁ pubbavidehānaṁ cattāri mahāsamuddasahassāni cattāri mahārājasahassāni sahassaṁ cātumahārājikānaṁ sahassaṁ tāvatiṁsānaṁ sahassaṁ yāmānaṁ sahassaṁ tusitānaṁ sahassaṁ nimmānaratīnaṁ sahassaṁ paranimmitavasavattīnaṁ sahassaṁ brahmalokānaṁ. Yāvatā, bhikkhave, sahassī lokadhātu, mahābrahmā tattha aggamakkhāyati. Mahābrahmunopi kho, bhikkhave, attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati. Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
A galaxy extends a thousand times as far as the moon and sun revolve and the shining ones light up the quarters. In that galaxy there are a thousand moons, a thousand suns, a thousand Sinerus king of mountains, a thousand Black Plum Tree Lands, a thousand lands west of Godāvarī, a thousand lands north of Kuru, a thousand lands east of Videha, four thousand oceans, four thousand great kings, a thousand realms of the gods of the four great kings, a thousand realms of the gods of the thirty-three, of the gods of Yama, of the joyful gods, of the gods who love to create, of the gods who control what is created by others, and a thousand realms of divinity. As far as the galaxy extends, the Great Divinity is said to be the foremost. But even the Great Divinity decays and perishes.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with it. Their desire fades away even for the foremost, let alone the inferior.
“Này các tỳ-khưu, trong phạm vi mặt trăng và mặt trời di chuyển, chiếu sáng các phương, có một ngàn thế giới. Trong một ngàn thế giới ấy, có một ngàn mặt trăng, một ngàn mặt trời, một ngàn vua núi Sineru, một ngàn cõi Diêm-phù-đề, một ngàn cõi Tây-ngưu-hóa, một ngàn cõi Bắc-câu-lô, một ngàn cõi Đông-thắng-thần, bốn ngàn đại dương, bốn ngàn vị Đại vương, một ngàn cõi trời Tứ Đại Thiên Vương, một ngàn cõi trời Ba Mươi Ba, một ngàn cõi trời Dạ-ma, một ngàn cõi trời Đâu-suất, một ngàn cõi trời Hóa Lạc, một ngàn cõi trời Tha Hóa Tự Tại, một ngàn thế giới Phạm thiên. Này các tỳ-khưu, trong một ngàn thế giới ấy, Đại Phạm thiên được xem là tối thượng. Này các tỳ-khưu, ngay cả Đại Phạm thiên cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Khi thấy như vậy, này các tỳ-khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều liền nhàm chán đối với điều ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham đối với điều tối thượng, huống nữa là đối với điều thấp kém.
Hoti so, bhikkhave, samayo yaṁ ayaṁ loko saṁvaṭṭati. Saṁvaṭṭamāne, bhikkhave, loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā bhavanti. Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhecarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti. Saṁvaṭṭamāne, bhikkhave, loke ābhassarā devā aggamakkhāyanti. Ābhassarānampi kho, bhikkhave, devānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati. Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
There comes a time when this cosmos contracts. As it contracts, most sentient beings migrate to the realm of streaming radiance. There they are mind-made, feeding on rapture, self-luminous, wandering in midair, steadily glorious, and they remain like that for a very long time. When the cosmos is contracting, the gods of streaming radiance are said to be the foremost. But even the gods of streaming radiance decay and perish.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with it. Their desire fades away even for the foremost, let alone the inferior.
“Này các tỳ-khưu, có thời khi thế giới này hoại diệt. Này các tỳ-khưu, khi thế giới hoại diệt, phần lớn chúng sanh được sanh về cõi Quang Âm. Ở đó, họ do ý sanh, lấy hỷ làm thức ăn, tự mình phát quang, đi lại trong hư không, sống trong cảnh tốt đẹp, tồn tại trong một thời gian rất dài. Này các tỳ-khưu, khi thế giới hoại diệt, các vị trời Quang Âm được xem là tối thượng. Này các tỳ-khưu, ngay cả các vị trời Quang Âm cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Khi thấy như vậy, này các tỳ-khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều liền nhàm chán đối với điều ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham đối với điều tối thượng, huống nữa là đối với điều thấp kém.
Dasayimāni, bhikkhave, kasiṇāyatanāni. Katamāni dasa? Pathavīkasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ; āpokasiṇameko sañjānāti …pe… tejokasiṇameko sañjānāti … vāyokasiṇameko sañjānāti … nīlakasiṇameko sañjānāti … pītakasiṇameko sañjānāti … lohitakasiṇameko sañjānāti … odātakasiṇameko sañjānāti … ākāsakasiṇameko sañjānāti … viññāṇakasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ. Imāni kho, bhikkhave, dasa kasiṇāyatanāni.
There are these ten universal dimensions of meditation. What ten? Someone perceives the meditation on universal earth above, below, across, undivided and limitless. They perceive the meditation on universal water … the meditation on universal fire … the meditation on universal air … the meditation on universal blue … the meditation on universal yellow … the meditation on universal red … the meditation on universal white … the meditation on universal space … They perceive the meditation on universal consciousness above, below, across, undivided and limitless. These are the ten universal dimensions of meditation.
“Này các tỳ-khưu, có mười biến xứ này. Mười biến xứ nào? Một người nhận thức biến xứ đất ở trên, ở dưới, ở ngang, không có hai, vô lượng; một người nhận thức biến xứ nước… cho đến… một người nhận thức biến xứ lửa… một người nhận thức biến xứ gió… một người nhận thức biến xứ xanh… một người nhận thức biến xứ vàng… một người nhận thức biến xứ đỏ… một người nhận thức biến xứ trắng… một người nhận thức biến xứ hư không… một người nhận thức biến xứ thức ở trên, ở dưới, ở ngang, không có hai, vô lượng. Này các tỳ-khưu, đây là mười biến xứ.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ dasannaṁ kasiṇāyatanānaṁ yadidaṁ viññāṇakasiṇaṁ eko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ. Evaṁsaññinopi kho, bhikkhave, santi sattā. Evaṁsaññīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati. Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
The best of these ten universal dimensions of meditation is when someone perceives the meditation on universal consciousness above, below, across, undivided and limitless. Some sentient beings perceive like this. But even the sentient beings who perceive like this decay and perish.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with it. Their desire fades away even for the foremost, let alone the inferior.
“Đây là điều tối thượng, này các tỳ-khưu, trong mười biến xứ này, tức là khi một người nhận thức biến xứ thức ở trên, ở dưới, ở ngang, không có hai, vô lượng. Này các tỳ-khưu, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Này các tỳ-khưu, ngay cả những chúng sanh có tưởng như vậy cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Khi thấy như vậy, này các tỳ-khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều liền nhàm chán đối với điều ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham đối với điều tối thượng, huống nữa là đối với điều thấp kém.
Aṭṭhimāni, bhikkhave, abhibhāyatanāni. Katamāni aṭṭha? Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni; ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti. Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
There are these eight dimensions of mastery. What eight? Perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the first dimension of mastery.
“Này các tỳ-khưu, có tám thắng xứ này. Tám thắng xứ nào? Một người có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài, có giới hạn, đẹp và xấu; vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chinh phục chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ nhất.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni; ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti. Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the second dimension of mastery.
“Một người có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài, vô lượng, đẹp và xấu; vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chinh phục chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ hai.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni; ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti. Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the third dimension of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài có giới hạn, xấu sắc và tốt sắc; sau khi chế ngự chúng, vị ấy có tưởng rằng: ‘Ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ ba.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni; ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti. Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the fourth dimension of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài vô hạn lượng, xấu sắc và tốt sắc; sau khi chế ngự chúng, vị ấy có tưởng rằng: ‘Ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tư.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni. Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ; evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni; ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti. Idaṁ pañcamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, blue, with blue color and blue appearance. They’re like a flax flower that’s blue, with blue color and blue appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, blue, with blue color and blue appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally, blue, with blue color and blue appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the fifth dimension of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài màu xanh, sắc xanh, hình tướng xanh, ánh quang xanh. Ví như hoa lanh có màu xanh, sắc xanh, hình tướng xanh, ánh quang xanh; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, có màu xanh, sắc xanh, hình tướng xanh, ánh quang xanh; tương tự như thế, một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài màu xanh, sắc xanh, hình tướng xanh, ánh quang xanh; sau khi chế ngự chúng, vị ấy có tưởng rằng: ‘Ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ năm.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni. Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ; evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni; ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti. Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, yellow, with yellow color and yellow appearance. They’re like a champak flower that’s yellow, with yellow color and yellow appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, yellow, with yellow color and yellow appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally, yellow, with yellow color and yellow appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the sixth dimension of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài màu vàng, sắc vàng, hình tướng vàng, ánh quang vàng. Ví như hoa kaṇikāra có màu vàng, sắc vàng, hình tướng vàng, ánh quang vàng; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, có màu vàng, sắc vàng, hình tướng vàng, ánh quang vàng; tương tự như thế, một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài màu vàng, sắc vàng, hình tướng vàng, ánh quang vàng; sau khi chế ngự chúng, vị ấy có tưởng rằng: ‘Ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ sáu.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni. Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ; evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni; ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti. Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, red, with red color and red appearance. They’re like a scarlet mallow flower that’s red, with red color and red appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, red, with red color and red appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally, red, with red color and red appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the seventh dimension of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài màu đỏ, sắc đỏ, hình tướng đỏ, ánh quang đỏ. Ví như hoa bandhujīvaka có màu đỏ, sắc đỏ, hình tướng đỏ, ánh quang đỏ; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, có màu đỏ, sắc đỏ, hình tướng đỏ, ánh quang đỏ; tương tự như thế, một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài màu đỏ, sắc đỏ, hình tướng đỏ, ánh quang đỏ; sau khi chế ngự chúng, vị ấy có tưởng rằng: ‘Ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ bảy.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni. Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ; evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni; ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti. Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ. Imāni kho, bhikkhave, aṭṭha abhibhāyatanāni.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, white, with white color and white appearance. They’re like the morning star that’s white, with white color and white appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, white, with white color and white appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally, white, with white color and white appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the eighth dimension of mastery. These are the eight dimensions of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài màu trắng, sắc trắng, hình tướng trắng, ánh quang trắng. Ví như sao mai có màu trắng, sắc trắng, hình tướng trắng, ánh quang trắng; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, có màu trắng, sắc trắng, hình tướng trắng, ánh quang trắng; tương tự như thế, một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài màu trắng, sắc trắng, hình tướng trắng, ánh quang trắng; sau khi chế ngự chúng, vị ấy có tưởng rằng: ‘Ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tám. Này các Tỳ khưu, đây là tám thắng xứ.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ aṭṭhannaṁ abhibhāyatanānaṁ yadidaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni; ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti. Evaṁsaññinopi kho, bhikkhave, santi sattā. Evaṁsaññīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati. Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
The best of these dimensions of mastery is when someone, not perceiving form internally, sees forms externally, white, with white color and white appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ Some sentient beings perceive like this. But even the sentient beings who perceive like this decay and perish.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with it. Their desire fades away even for the foremost, let alone the inferior.
Này các Tỳ khưu, trong tám thắng xứ này, đây là tối thượng, tức là: một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài màu trắng, sắc trắng, hình tướng trắng, ánh quang trắng; sau khi chế ngự chúng, vị ấy có tưởng rằng: ‘Ta biết, ta thấy.’ Này các Tỳ khưu, cũng có những chúng sanh có tưởng như vậy. Này các Tỳ khưu, đối với các chúng sanh có tưởng như vậy cũng có sự biến đổi, có sự đổi khác. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, khi thấy như vậy, cũng nhàm chán đối với điều ấy. Do nhàm chán điều ấy, vị ấy ly tham đối với (pháp) tối thượng, huống nữa là đối với (pháp) thấp kém.
Catasso imā, bhikkhave, paṭipadā. Katamā catasso?
- Dukkhā paṭipadā dandhābhiññā,
- dukkhā paṭipadā khippābhiññā,
- sukhā paṭipadā dandhābhiññā,
- sukhā paṭipadā khippābhiññā—
imā kho, bhikkhave, catasso paṭipadā.
There are four ways of practice. What four?
- Painful practice with slow insight,
- painful practice with swift insight,
- pleasant practice with slow insight, and
- pleasant practice with swift insight.
These are the four ways of practice.
Này các Tỳ khưu, có bốn pháp hành này. Bốn là gì? Khổ hành độn trí, khổ hành tốc trí, lạc hành độn trí, lạc hành tốc trí. Này các Tỳ khưu, đây là bốn pháp hành.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imāsaṁ catunnaṁ paṭipadānaṁ yadidaṁ sukhā paṭipadā khippābhiññā. Evaṁpaṭipannāpi kho, bhikkhave, santi sattā. Evaṁpaṭipannānampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati. Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
The best of these four ways of practice is the pleasant practice with swift insight. Some sentient beings practice like this. But even the sentient beings who practice like this decay and perish.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with it. Their desire fades away even for the foremost, let alone the inferior.
Này các Tỳ khưu, trong bốn pháp hành này, đây là tối thượng, tức là lạc hành tốc trí. Này các Tỳ khưu, cũng có những chúng sanh thực hành như vậy. Này các Tỳ khưu, đối với các chúng sanh thực hành như vậy cũng có sự biến đổi, có sự đổi khác. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, khi thấy như vậy, cũng nhàm chán đối với điều ấy. Do nhàm chán điều ấy, vị ấy ly tham đối với (pháp) tối thượng, huống nữa là đối với (pháp) thấp kém.
Catasso imā, bhikkhave, saññā. Katamā catasso?
- Parittameko sañjānāti,
- mahaggatameko sañjānāti,
- appamāṇameko sañjānāti,
- ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanameko sañjānāti—
imā kho, bhikkhave, catasso saññā.
There are these four perceptions. What four?
- One individual perceives the limited.
- One individual perceives the expansive.
- One individual perceives the limitless.
- One individual, aware that ‘there is nothing at all’, perceives the dimension of nothingness.
These are the four perceptions.
Này các Tỳ khưu, có bốn tưởng này. Bốn là gì? Một người biết tưởng có giới hạn, một người biết tưởng đã trở thành lớn lao, một người biết tưởng vô hạn lượng, một người biết Vô Sở Hữu Xứ với (tưởng) rằng: ‘Không có gì cả.’ Này các Tỳ khưu, đây là bốn tưởng.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imāsaṁ catunnaṁ saññānaṁ yadidaṁ ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanameko sañjānāti. Evaṁsaññinopi kho, bhikkhave, santi sattā. Evaṁsaññīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati. Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
The best of these four perceptions is when someone, aware that ‘there is nothing at all’, perceives the dimension of nothingness. Some sentient beings perceive like this. But even the sentient beings who perceive like this decay and perish.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with it. Their desire fades away even for the foremost, let alone the inferior.
Này các Tỳ khưu, trong bốn tưởng này, đây là tối thượng, tức là một người biết Vô Sở Hữu Xứ với (tưởng) rằng: ‘Không có gì cả.’ Này các Tỳ khưu, cũng có những chúng sanh có tưởng như vậy. Này các Tỳ khưu, đối với các chúng sanh có tưởng như vậy cũng có sự biến đổi, có sự đổi khác. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, khi thấy như vậy, cũng nhàm chán đối với điều ấy. Do nhàm chán điều ấy, vị ấy ly tham đối với (pháp) tối thượng, huống nữa là đối với (pháp) thấp kém.
Etadaggaṁ, bhikkhave, bāhirakānaṁ diṭṭhigatānaṁ yadidaṁ ‘no cassaṁ, no ca me siyā, na bhavissāmi, na me bhavissatī’ti. Evaṁdiṭṭhino, bhikkhave, etaṁ pāṭikaṅkhaṁ: ‘yā cāyaṁ bhave appaṭikulyatā, sā cassa na bhavissati; yā cāyaṁ bhavanirodhe pāṭikulyatā, sā cassa na bhavissatī’ti. Evaṁdiṭṭhinopi kho, bhikkhave, santi sattā. Evaṁdiṭṭhīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati. Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
This is the best of the convictions of outsiders, that is: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine.’ When someone has such a view, you can expect that they will not be attracted to continued existence, and they will not be repulsed by the cessation of continued existence. Some sentient beings have such a view. But even the sentient beings who have views like this decay and perish.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with it. Their desire fades away even for the foremost, let alone the inferior.
“Này các Tỳ khưu, trong các tà kiến của ngoại đạo, đây là tối thượng, nghĩa là: ‘Tôi đã không hiện hữu, tôi đã không có; tôi sẽ không hiện hữu, tôi sẽ không có’. Này các Tỳ khưu, đối với người có tà kiến như vậy, điều này có thể được mong đợi: sự không nhàm chán đối với hữu sẽ không có nơi người ấy; sự nhàm chán đối với hữu diệt sẽ không có nơi người ấy. Này các Tỳ khưu, cũng có những chúng sanh có tà kiến như vậy. Này các Tỳ khưu, đối với những chúng sanh có tà kiến như vậy, vẫn có sự biến đổi, vẫn có sự đổi khác. Này các Tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều cũng yếm ly đối với điều ấy. Do yếm ly đối với điều ấy, vị ấy ly tham đối với (quan điểm) tối thượng, huống nữa là đối với (quan điểm) thấp kém.
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā paramatthavisuddhiṁ paññāpenti. Etadaggaṁ, bhikkhave, paramatthavisuddhiṁ paññapentānaṁ yadidaṁ sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Te tadabhiññāya tassa sacchikiriyāya dhammaṁ desenti. Evaṁvādinopi kho, bhikkhave, santi sattā. Evaṁvādīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati. Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who advocate the ultimate purity of the spirit. This is the best of the advocates of the ultimate purity of the spirit, that is, when someone, going totally beyond the dimension of nothingness, enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception. They teach Dhamma in order to directly know and realize this. Some sentient beings have such a doctrine. But even the sentient beings who have such a doctrine decay and perish.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with it. Their desire fades away even for the foremost, let alone the inferior.
“Này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố về sự thanh tịnh tối thượng. Này các Tỳ khưu, trong số những người tuyên bố về sự thanh tịnh tối thượng, đây là tối thượng, nghĩa là: sau khi vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu xứ, vị ấy đạt đến và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Họ, sau khi đã thắng tri điều ấy, thuyết giảng Chánh pháp để chứng ngộ điều ấy. Này các Tỳ khưu, cũng có những chúng sanh có quan điểm như vậy. Này các Tỳ khưu, đối với những chúng sanh có quan điểm như vậy, vẫn có sự biến đổi, vẫn có sự đổi khác. Này các Tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều cũng yếm ly đối với điều ấy. Do yếm ly đối với điều ấy, vị ấy ly tham đối với (quan điểm) tối thượng, huống nữa là đối với (quan điểm) thấp kém.
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññāpenti. Etadaggaṁ, bhikkhave, paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapentānaṁ yadidaṁ channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādā vimokkho. Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhikkhave, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti: ‘samaṇo gotamo na kāmānaṁ pariññaṁ paññāpeti, na rūpānaṁ pariññaṁ paññāpeti, na vedanānaṁ pariññaṁ paññāpetī’ti. Kāmānañcāhaṁ, bhikkhave, pariññaṁ paññāpemi, rūpānañca pariññaṁ paññāpemi, vedanānañca pariññaṁ paññāpemi, diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītibhūto anupādā parinibbānaṁ paññāpemī”ti.
Navamaṁ.
There are some ascetics and brahmins who advocate ultimate extinguishment in this very life. This is the best of those who advocate extinguishment in this very life, that is, liberation by not grasping after truly understanding the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape of the six fields of contact. Though I state and assert this, certain ascetics and brahmins misrepresent me with the incorrect, hollow, false, untruthful claim: ‘The ascetic Gotama doesn’t advocate the complete understanding of sensual pleasures, forms, or feelings.’ But I do advocate the complete understanding of sensual pleasures, forms, and feelings. And I advocate complete extinguishment with no fuel for grasping in this very life, wishless, quenched, and cooled.”
“Này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố về Niết-bàn tối thượng trong hiện tại. Này các Tỳ khưu, trong số những người tuyên bố về Niết-bàn tối thượng trong hiện tại, đây là tối thượng, nghĩa là: sau khi đã biết như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xứ tiếp xúc, tâm được giải thoát không còn chấp thủ. Này các Tỳ khưu, một số Sa-môn, Bà-la-môn đã vu khống Ta, người nói như vậy, người trình bày như vậy, bằng những điều không có thật, trống rỗng, sai lạc, không chân chánh rằng: ‘Sa-môn Gotama không tuyên bố về sự liễu tri các dục, không tuyên bố về sự liễu tri các sắc, không tuyên bố về sự liễu tri các thọ’. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố về sự liễu tri các dục, Ta tuyên bố về sự liễu tri các sắc, Ta tuyên bố về sự liễu tri các thọ, và Ta tuyên bố về sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ ngay trong hiện tại, cho người đã hết khát ái, đã tịch tịnh, đã mát mẻ”. Chín.