- Aṅguttara Nikāya 10.28
- 3. Mahāvagga
Bản dịch
AN 10.28 — Những Câu Hỏi Lớn (2)
Dutiyamahāpañhāsutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kajangalà, tại Trúc Lâm. Bấy giờ có rất nhiều nam cư sĩ ở Kajangalà đi đến Tỷ-kheo-ni trú ở Kajangalà, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nhà cư sĩ ở Kajangalà nói với Ty-kheo-ni ở Kjangalà:
TTC 2—Thưa Ðại Tỷ, Thế Tôn có tuyên bố trong các câu hỏi lớn: “Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời; hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời; ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời; bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời; năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời; sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời; bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời; tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời; chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời.” Thưa Ðại Tỷ, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn ý nghĩa rộng rãi cần phải hiểu như thế nào?
TTC 3—Này các Hiền giả, tôi không được tận mặt nghe và tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn. Tôi cũng không được tận mặt nghe và tận mặt lãnh thọ từ các Tỷ-kheo có tu tập về ý. Tuy vậy, ở đây, vấn đề được trình bày với tôi như thế nào, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
—Thưa vâng, Ðại tỷ.
Các nam cư sĩ ở Kajangalà vâng đáp Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà. Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà nói như sau:
TTC 4-5—Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy? (… Ở đây, giống như 4 câu hỏi đầu của kinh trước).
TTC 6Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời được Thế Tôn nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong bốn pháp, này chư hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập, tâm chơn chánh thấy được cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bốn pháp?
-—Trong bốn niệm xứ.
Trong bốn pháp này, này chư hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập, chơn chánh… là người chấm dứt khổ đau.
Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy.
TTC 7-8Năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong năm pháp, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập tâm… là người chấm dứt khổ đau. Trong năm pháp gì?
-—Trong năm căn…
Trong sáu pháp gì?
-—Trong sáu xuất ly giới…
Trong bảy pháp gì?
-—Trong bảy giác chi…
Trong tám pháp gì?
-—Trong con đường Thánh có tám ngành…
Trong chín pháp gì?
-—Trong chín hữu tình cư…
TTC 9Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong mười pháp, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập tâm, chơn chánh thấy được cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong mười pháp?
-—Trong mười thiện đạo.
Trong mười pháp này, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh tu tập tâm, chơn chánh thấy được cứu cánh, chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 10Như vậy, này chư Hiền, Thế Tôn đã nói đến trong các câu hỏi lớn: “Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời…; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời”. Này chư Hiền, lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Này chư Hiền, nếu muốn, các vị hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời các hiền giả như thế nào, hay như vậy thọ trì.
—Thưa vâng, Ðại tỷ.
Các nam cư sĩ ở Kajangalà sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà, thân phía hữu hướng về Tỳ kheo ni rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ ở Kajangalà, đem câu chuyện nói với Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà như thế nào, tất cả đều thuật lên Thế Tôn rõ.
TTC 11—Lành thay, lành thay, này các Gia chủ. Này các Gia chủ, có trí tuệ là Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà ! Này các Gia chủ, có trí tuệ là Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà ! Này các Gia chủ, nếu các Ông có đi đến Ta và hỏi ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà đã trả lời.
Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy, hãy như vậy thọ trì.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.28
- 3. The Great Chapter
The Great Questions (2nd)
8. Bài kinh Lớn Về Các Câu Hỏi, phần thứ hai
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kajaṅgalāyaṁ viharati veḷuvane. Atha kho sambahulā kajaṅgalakā upāsakā yena kajaṅgalikā bhikkhunī tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā kajaṅgalikaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho kajaṅgalakā upāsakā kajaṅgalikaṁ bhikkhuniṁ etadavocuṁ:
At one time the Buddha was staying near Kajaṅgalā in a bamboo grove. Then several lay followers of Kajaṅgalā went to the nun Kajaṅgalikā, bowed, sat down to one side, and said to her:
28. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Kajaṅgalā, tại khu rừng Veḷuvana. Rồi, một số đông các nam cận sự ở Kajaṅgalā đã đi đến chỗ tỳ khưu ni Kajaṅgalikā; sau khi đến, họ đã đảnh lễ tỳ khưu ni Kajaṅgalikā rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, các nam cận sự ở Kajaṅgalā đã nói điều này với tỳ khưu ni Kajaṅgalikā:
“Vuttamidaṁ, ayye, bhagavatā mahāpañhesu: ‘eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇaṁ, dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇāni, tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇāni, cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇāni, pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇāni, cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇāni, satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇāni, aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇāni, nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇāni, dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti. Imassa nu kho, ayye, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
“Ma’am, this was said by the Buddha in ‘The Great Questions’: ‘One thing: question, summary recital, and answer. Two … Three … Four … Five … Six … Seven … Eight … Nine … Ten things: question, summary recital, and answer.’ How should we see the detailed meaning of the Buddha’s brief statement?”
“Thưa ngài, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến ở trong (bài kinh) Lớn Về Các Câu Hỏi: ‘Một câu hỏi, một đề mục, một sự giải đáp; hai câu hỏi, hai đề mục, hai sự giải đáp; ba câu hỏi, ba đề mục, ba sự giải đáp; bốn câu hỏi, bốn đề mục, bốn sự giải đáp; năm câu hỏi, năm đề mục, năm sự giải đáp; sáu câu hỏi, sáu đề mục, sáu sự giải đáp; bảy câu hỏi, bảy đề mục, bảy sự giải đáp; tám câu hỏi, tám đề mục, tám sự giải đáp; chín câu hỏi, chín đề mục, chín sự giải đáp; mười câu hỏi, mười đề mục, mười sự giải đáp.’ Thưa ngài, ý nghĩa của lời được đức Thế Tôn nói một cách tóm tắt này nên được hiểu một cách chi tiết là như thế nào?”
“Na kho panetaṁ, āvuso, bhagavato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ, napi manobhāvanīyānaṁ bhikkhūnaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ; api ca yathā mettha khāyati taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, ayye”ti, kho kajaṅgalakā upāsakā kajaṅgalikāya bhikkhuniyā paccassosuṁ. Kajaṅgalikā bhikkhunī etadavoca:
“Respectable sirs, I haven’t heard and learned this in the presence of the Buddha or from esteemed mendicants. But as to how it seems to me, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, ma’am,” replied the lay followers. The nun Kajaṅgalikā said this:
“Này chư hiền, điều này tôi thật sự chưa từng được nghe từ kim khẩu của đức Thế Tôn, chưa từng được tiếp nhận từ kim khẩu của ngài; cũng chưa từng được nghe từ sự hiện diện của các vị tỳ khưu có tâm tu tập, chưa từng được tiếp nhận từ sự hiện diện của các vị ấy. Tuy nhiên, theo như điều này hiện ra với tôi, các vị hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, tôi sẽ nói.” “Vâng, thưa ni sư.” Các nam cư sĩ ở Kajaṅgalā đã đáp lời tỳ khưu ni Kajaṅgalikā. Tỳ khưu ni Kajaṅgalikā đã nói điều này:
“‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Ekadhamme, āvuso, bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamasmiṁ ekadhamme? Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā—imasmiṁ kho, āvuso, ekadhamme bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
“‘One thing: question, summary recital, and answer.’ That’s what the Buddha said, but why did he say it? Becoming completely disillusioned, dispassionate, and freed regarding one thing, seeing its limits and fully comprehending its meaning, a mendicant makes an end of suffering in this very life. What one thing? ‘All sentient beings are sustained by food.’ Becoming completely disillusioned, dispassionate, and freed regarding this one thing, seeing its limits and fully comprehending its meaning, a mendicant makes an end of suffering in this very life. ‘One thing: question, summary recital, and answer.’ That’s what the Buddha said, and this is why he said it.
“‘Một câu hỏi, một đề mục, một lời giải đáp.’ Lời này đã được đức Thế Tôn nói ra. Do duyên vào điều gì mà lời này được nói ra? Này chư hiền, đối với một pháp, vị tỳ khưu do chán ghét một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong một pháp nào? Tất cả chúng sanh tồn tại nhờ vật thực. Này chư hiền, chính trong một pháp này, vị tỳ khưu do chán ghét một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Một câu hỏi, một đề mục, một lời giải đáp.’ Lời mà đức Thế Tôn đã nói ra ấy là do duyên vào điều này mà được nói ra.
‘Dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇānī’ti iti, kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Dvīsu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu dvīsu? Nāme ca rūpe ca …pe… katamesu tīsu? Tīsu vedanāsu—imesu kho, āvuso, tīsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What two? Name and form. … What three? Three feelings. …
“‘Hai câu hỏi, hai đề mục, hai lời giải đáp.’ Lời này đã được đức Thế Tôn nói ra. Do duyên vào điều gì mà lời này được nói ra? Này chư hiền, đối với hai pháp, vị tỳ khưu do chán ghét một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong hai pháp nào? Trong danh và sắc... v.v... Trong ba pháp nào? Trong ba loại cảm thọ. Này chư hiền, chính trong ba pháp này, vị tỳ khưu do chán ghét một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Ba câu hỏi, ba đề mục, ba lời giải đáp.’ Lời mà đức Thế Tôn đã nói ra ấy là do duyên vào điều này mà được nói ra.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Catūsu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu catūsu? Catūsu satipaṭṭhānesu—imesu kho, āvuso, catūsu dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
With a mind well developed in four things—seeing their limits and fully comprehending their meaning—a mendicant makes an end of suffering in this very life. What four? The four kinds of mindfulness meditation. … With a mind well developed in these four things—seeing their limits and fully fathoming their meaning—a mendicant makes an end of suffering in this very life. …
“‘Bốn câu hỏi, bốn đề mục, bốn lời giải đáp.’ Lời này đã được đức Thế Tôn nói ra. Do duyên vào điều gì mà lời này được nói ra? Này chư hiền, đối với bốn pháp, vị tỳ khưu có tâm được tu tập một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong bốn pháp nào? Trong bốn niệm xứ. Này chư hiền, chính trong bốn pháp này, vị tỳ khưu có tâm được tu tập một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Bốn câu hỏi, bốn đề mục, bốn lời giải đáp.’ Lời mà đức Thế Tôn đã nói ra ấy là do duyên vào điều này mà được nói ra.
‘Pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Pañcasu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu pañcasu? Pañcasu indriyesu …pe… katamesu chasu? Chasu nissaraṇīyāsu dhātūsu …pe… katamesu sattasu? Sattasu bojjhaṅgesu …pe… katamesu aṭṭhasu? Aṭṭhasu ariyaaṭṭhaṅgikamaggesu—imesu kho, āvuso, aṭṭhasu dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What five? The five faculties. … What six? The six elements of escape. … What seven? The seven awakening factors. … What eight? The noble eightfold path. …
“‘Năm câu hỏi, năm đề mục, năm lời giải đáp.’ Lời này đã được đức Thế Tôn nói ra. Do duyên vào điều gì mà lời này được nói ra? Này chư hiền, đối với năm pháp, vị tỳ khưu có tâm được tu tập một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong năm pháp nào? Trong năm căn... v.v... Trong sáu pháp nào? Trong sáu giới xuất ly... v.v... Trong bảy pháp nào? Trong bảy giác chi... v.v... Trong tám pháp nào? Trong Thánh đạo Tám ngành. Này chư hiền, chính trong tám pháp này, vị tỳ khưu có tâm được tu tập một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Tám câu hỏi, tám đề mục, tám lời giải đáp.’ Lời mà đức Thế Tôn đã nói ra ấy là do duyên vào điều này mà được nói ra.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Navasu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu navasu? Navasu sattāvāsesu—imesu kho, āvuso, navasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Becoming completely disillusioned, dispassionate, and freed regarding nine things, seeing their limits and fully comprehending their meaning, a mendicant makes an end of suffering in this very life. What nine? The nine abodes of sentient beings. Becoming completely disillusioned, dispassionate, and freed regarding these nine things, seeing their limits and fully comprehending their meaning, a mendicant makes an end of suffering in this very life.
“‘Chín câu hỏi, chín đề mục, chín lời giải đáp.’ Lời này đã được đức Thế Tôn nói ra. Do duyên vào điều gì mà lời này được nói ra? Này chư hiền, đối với chín pháp, vị tỳ khưu do chán ghét một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong chín pháp nào? Trong chín chúng sanh trú. Này chư hiền, chính trong chín pháp này, vị tỳ khưu do chán ghét một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Chín câu hỏi, chín đề mục, chín lời giải đáp.’ Lời mà đức Thế Tôn đã nói ra ấy là do duyên vào điều này mà được nói ra.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Dasasu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu dasasu? Dasasu kusalesu kammapathesu—imesu kho, āvuso, dasasu dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Ten things: question, summary recital, and answer.’ That’s what the Buddha said, but why did he say it? Becoming well developed in ten things—seeing their limits and fully fathoming their meaning—a mendicant makes an end of suffering in this very life. What ten? The ten ways of performing skillful deeds. With a mind well developed in these ten things—seeing their limits and fully fathoming their meaning—a mendicant makes an end of suffering in this very life. ‘Ten things: question, summary recital, and answer.’ That’s what the Buddha said, and this is why he said it.
“‘Mười câu hỏi, mười đề mục, mười lời giải đáp.’ Lời này đã được đức Thế Tôn nói ra. Do duyên vào điều gì mà lời này được nói ra? Này chư hiền, đối với mười pháp, vị tỳ khưu có tâm được tu tập một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong mười pháp nào? Trong mười thiện nghiệp đạo. Này chư hiền, chính trong mười pháp này, vị tỳ khưu có tâm được tu tập một cách chân chánh, do thấy được giới hạn một cách chân chánh, do liễu tri ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Mười câu hỏi, mười đề mục, mười lời giải đáp.’ Lời mà đức Thế Tôn đã nói ra ấy là do duyên vào điều này mà được nói ra.
Iti kho, āvuso, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā saṅkhittena bhāsitāsu mahāpañhāsu: ‘eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇaṁ …pe… dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, imassa kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi. Ākaṅkhamānā ca pana tumhe, āvuso, bhagavantaññeva upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha. Yathā vo bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāthā”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho kajaṅgalakā upāsakā kajaṅgalikāya kho bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā kajaṅgalikaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho kajaṅgalakā upāsakā yāvatako ahosi kajaṅgalikāya bhikkhuniyā saddhiṁ kathāsallāpo, taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesuṁ.
That’s how I understand the detailed meaning of what the Buddha said in brief in ‘The Great Questions’. If you wish, you may go to the Buddha and ask him about this. You should remember it in line with the Buddha’s answer.”
“Yes, ma’am,” replied those lay followers, approving and agreeing with what the nun Kajaṅgalikā said. Then they rose from their seats, bowed, and respectfully circled her, keeping her on their right. Then they went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed.
“Này các hiền hữu, như vậy, đối với những đại vấn đề đã được đức Thế Tôn thuyết giảng một cách tóm tắt rằng: ‘Một câu hỏi, một đề mục, một lời giải đáp… cho đến… mười câu hỏi, mười đề mục, mười lời giải đáp,’ tôi hiểu ý nghĩa của lời dạy tóm tắt này của đức Thế Tôn một cách rộng rãi như vậy. Này các hiền hữu, nếu quý vị mong muốn, hãy đến yết kiến chính đức Thế Tôn và hỏi lại về ý nghĩa này. Đức Thế Tôn giải thích cho quý vị như thế nào, quý vị hãy ghi nhớ như thế ấy.” Các nam cư sĩ ở Kajaṅgalā thưa rằng: “Thưa vâng, tỳ-khưu-ni.” Rồi các nam cư sĩ ở Kajaṅgalā hoan hỷ, tín thọ lời dạy của tỳ-khưu-ni Kajaṅgalikā, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tỳ-khưu-ni Kajaṅgalikā, đi nhiễu quanh theo phía bên phải, rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên xong, các nam cư sĩ ở Kajaṅgalā đã trình bày lại với đức Thế Tôn toàn bộ cuộc đối thoại đã diễn ra với tỳ-khưu-ni Kajaṅgalikā.
“Sādhu sādhu, gahapatayo. Paṇḍitā, gahapatayo, kajaṅgalikā bhikkhunī. Mahāpaññā, gahapatayo, kajaṅgalikā bhikkhunī. Mañcepi tumhe, gahapatayo, upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, ahampi cetaṁ evamevaṁ byākareyyaṁ yathā taṁ kajaṅgalikāya bhikkhuniyā byākataṁ. Eso ceva tassa attho. Evañca naṁ dhāreyyāthā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Good, good, householders. The nun Kajaṅgalikā is astute, she has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as the nun Kajaṅgalikā. That is what it means, and that’s how you should remember it.”
“Lành thay, lành thay, này các gia chủ! Này các gia chủ, tỳ-khưu-ni Kajaṅgalikā là bậc hiền trí. Này các gia chủ, tỳ-khưu-ni Kajaṅgalikā là bậc có đại trí tuệ. Này các gia chủ, nếu các ông đến hỏi ta về ý nghĩa này, ta cũng sẽ giải thích y như tỳ-khưu-ni Kajaṅgalikā đã giải thích. Đây chính là ý nghĩa của lời dạy ấy. Và các ông hãy ghi nhớ như vậy.” (Kinh thứ tám.)