- Aṅguttara Nikāya 10.30
- 3. Mahāvagga
Bản dịch
AN 10.30 — Kosalà (2)
Dutiyakosalasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala, từ một trận chiến trở về, thắng trận, mục đích đã đạt được. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến khu vườn. Xa cho đến đất có thể đi xe được, vua đi xe, rồi xuống xe đi bộ và vào khu vườn.
TTC 2Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo:
—Thưa các Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trú ở đâu? Thưa các Tôn giả, chúng tôi muốn yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Tâu Ðại vương, đây là ngôi tịnh xá, có cửa đóng. Ngài hãy đi đến ngôi nhà ấy, đừng có tiếng động, đừng có hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng, rồi gõ nơi then cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho Đại vương.
Rồi vua Pasenadi nước Kosalà, đi đến ngôi tịnh xá cửa đóng ấy, đi đến không có tiếng động, không có hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng, rồi gõ vào then cửa. Thế Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi, nước Kosalàđi đi vào tịnh xá, đầu cúi rạp xuống trước chân Thế Tôn, miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay xoa bóp, và nói lên tên mình:
—Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosalà. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosalà.
—Thưa Ðại vương, do Ðại vương thấy ý nghĩa lợi ích gì mà Ðại vương lại làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ lộ lòng kính mộ đối với cái thân này?
TTC 4Bạch Thế Tôn, để nêu rõ lòng biết ơn của con, để nói lên lòng cảm tạ của con đối với Thế Tôn, mà con làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ bày lòng từ ái đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đã thực hiện hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, là vị đã an lập Thánh chánh lý cho đa số, tức là chánh chơn pháp tánh, thiện pháp tánh. Bạch Thế Tôn, vì Thế Tôn là vị đã thực hiện hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, tức là chánh chơn pháp tánh, thiện pháp tánh; vì con thấy ý nghĩa lợi ích này nên con đã làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy, và tỏ bày lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
TTC 5Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có giới, có Phật giới, có Thánh giới, có thiện giới, có đầy đủ thiện giới. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn có giới, có Phật giới, có Thánh giới, có thiện giới, có đầy đủ thiện giới; bạch Thế Tôn, vì con thấy ý nghĩa lợi ích này, mà con đã làm những cử hạ liệt quá mức như vậy và bày tỏ lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
TTC 6Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã lâu ngày là vị sống ở rừng, sống tại các trú xứ rừng núi, các vùng cao nguyên hẻo lánh xa vắng. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn đã lâu ngày là vị sống ở rừng, sống tại các trú xứ rừng núi, các vùng cao nguyên hẻo lánh xa vắng; bạch Thế Tôn, vì con thấy… lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
TTC 7Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị biết đủ với bất cứ vật dụng nào được cúng dường, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn là vị biết đủ với bất cứ vật dụng nào cúng dường, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; bạch Thế Tôn, vì con thấy… lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
TTC 8Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay là phước điền vô thượng ở đời. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời; bạch Thế Tôn, vì con thấy… lòng kính mộ với Thế Tôn.
TTC 9Lại nữa, bạch Thế Tôn, những câu chuyện nào thuộc hướng thượng, khai mở tâm trí, ví như câu chuyện về ít dục, câu chuyện biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh cần tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến, các câu chuyện như vậy, Thế Tôn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Vì rằng, bạch Thế Tôn, những câu chuyện nào thuộc hướng thượng… có được không phí sức; bạch Thế Tôn, vì con thấy… lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
TTC 10Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đối với bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Vì rằng bạch Thế Tôn, Thế Tôn đối với bốn Thiền… có được không phí sức; bạch Thế Tôn, vì con thấy… lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
TTC 11Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn tùy niệm nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… nhớ lại nhiều đời với các nét đại cương và các chi tiết. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhớ lại nhiều đời quá khứ, như một đời, hai đời… nhớ lại nhiều đời sống với các nét đại cương và các chi tiết; bạch Thế Tôn, vì con thấy… lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
TTC 12Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân…đều do hạnh nghiệp của họ. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn với thiên thanh nhãn tịnh siêu nhân, vì con thấy… lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
TTC 13Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vì rằng bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; vì con thấy ý nghĩa lợi ích này nên con đã làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy, và tỏ lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
TTC 14Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều công tác, có nhiều công việc phải làm.
—Thưa Ðại vương, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
Rồi vua Pasanadi nước Kosalà, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.30
- 3. The Great Chapter
Kosala (2nd)
10. Kinh Kosala thứ hai
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena rājā pasenadi kosalo uyyodhikā nivatto hoti vijitasaṅgāmo laddhādhippāyo. Atha kho rājā pasenadi kosalo yena ārāmo tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova ārāmaṁ pāvisi.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū abbhokāse caṅkamanti. Atha kho rājā pasenadi kosalo yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca: “kahaṁ nu kho, bhante, bhagavā etarahi viharati arahaṁ sammāsambuddho. Dassanakāmā hi mayaṁ, bhante, taṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
“Eso, mahārāja, vihāro saṁvutadvāro. Tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno ālindaṁ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭehi; vivarissati te bhagavā dvāran”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Now at that time King Pasenadi of Kosala returned from combat after winning a battle and succeeding in his strategy. Then King Pasenadi of Kosala went to the monastery. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and entered the monastery on foot.
At that time several mendicants were walking mindfully in the open air. Then King Pasenadi of Kosala went up to them and said, “Sirs, where is the Blessed One at present, the perfected one, the fully awakened Buddha? For I want to see the Buddha.”
“Great king, that’s his dwelling, with the door closed. Approach it quietly, without hurrying; go onto the porch, clear your throat, and knock on the door-panel. The Buddha will open the door.”
30. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala vừa từ chiến trận trở về, đã chiến thắng và đạt được mục đích. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến khu vườn. Đi xe cho đến khi còn có thể đi xe được, rồi xuống xe, vua đi bộ vào khu vườn. Lúc bấy giờ, có nhiều Tỳ khưu đang đi kinh hành ở ngoài trời. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến chỗ các Tỳ khưu ấy; sau khi đến, vua nói với các Tỳ khưu ấy: ‘Bạch các Tôn giả, hiện nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang ở đâu? Bạch các Tôn giả, chúng con muốn được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy’. ‘Thưa Đại vương, kia là tịnh xá có cửa đóng kín. Xin Đại vương hãy đi đến đó một cách im lặng, không vội vã, vào đến hiên nhà, hắng giọng rồi gõ vào thanh ngang cửa; Thế Tôn sẽ mở cửa cho Đại vương’.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yena so vihāro saṁvutadvāro, tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno ālindaṁ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭesi. Vivari bhagavā dvāraṁ. Atha kho rājā pasenadi kosalo vihāraṁ pavisitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati pāṇīhi ca parisambāhati nāmañca sāveti: “rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo; rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo”ti.
So the king approached the Buddha’s dwelling, cleared his throat and knocked on the door-panel, and the Buddha opened the door. Then King Pasenadi entered the Buddha’s dwelling. He bowed with his head to the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name: “Sir, I am Pasenadi, king of Kosala! I am Pasenadi, king of Kosala!”
Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến tịnh xá có cửa đóng kín ấy một cách im lặng, không vội vã, vào đến hiên nhà, hắng giọng rồi gõ vào thanh ngang cửa. Thế Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi nước Kosala vào tịnh xá, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và hôn chân Thế Tôn bằng miệng, xoa bóp bằng tay, và xưng tên: ‘Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala; bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala’.
“Kaṁ pana tvaṁ, mahārāja, atthavasaṁ sampassamāno imasmiṁ sarīre evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karosi, mettūpahāraṁ upadaṁsesī”ti?
“Kataññutaṁ kho ahaṁ, bhante, kataveditaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
“But, Great King, for what reason do you act with such utmost deference for this body, conveying your manifest love?”
“Sir, it’s because of my gratitude and thanks for the Buddha that I act with such utmost deference, conveying my manifest love.
“Thưa Đại vương, thấy được lợi ích gì mà Ngài lại tỏ ra hết mực khiêm cung và thể hiện sự kính mến đối với thân này như vậy?” “Bạch Thế Tôn, chính vì con thấy được lòng tri ân và biết ơn nên con mới tỏ ra hết mực khiêm cung và thể hiện sự kính mến đối với Thế Tôn như vậy.
Bhagavā hi, bhante, bahujanahitāya paṭipanno bahujanasukhāya bahuno janassa ariye ñāye patiṭṭhāpitā yadidaṁ kalyāṇadhammatāya kusaladhammatāya. Yampi, bhante, bhagavā bahujanahitāya paṭipanno bahujanasukhāya bahuno janassa ariye ñāye patiṭṭhāpitā yadidaṁ kalyāṇadhammatāya kusaladhammatāya, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
The Buddha is practicing for the welfare and happiness of the people. He has established many people in the noble system, that is, the principles of goodness and skillfulness. This is a reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã thực hành vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, đã thiết lập nhiều người trong phương pháp cao thượng, tức là trong thiện pháp, trong pháp lành. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn đã thực hành vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, đã thiết lập nhiều người trong phương pháp cao thượng, tức là trong thiện pháp, trong pháp lành, chính vì thấy được lợi ích này, bạch Thế Tôn, mà con tỏ ra hết mực khiêm cung và thể hiện sự kính mến đối với Thế Tôn.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā sīlavā vuddhasīlo ariyasīlo kusalasīlo kusalasīlena samannāgato. Yampi, bhante, bhagavā sīlavā vuddhasīlo ariyasīlo kusalasīlo kusalasīlena samannāgato, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Furthermore, the Buddha is ethical, possessing ethical conduct that is mature, noble, and skillful. This is another reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
“Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc có giới, có giới hạnh tăng trưởng, có giới hạnh cao thượng, có giới hạnh thiện lành, và đã thành tựu giới hạnh thiện lành. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn là bậc có giới, có giới hạnh tăng trưởng, có giới hạnh cao thượng, có giới hạnh thiện lành, và đã thành tựu giới hạnh thiện lành, chính vì thấy được lợi ích này, bạch Thế Tôn, mà con tỏ ra hết mực khiêm cung và thể hiện sự kính mến đối với Thế Tôn.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā dīgharattaṁ āraññiko, araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati. Yampi, bhante, bhagavā dīgharattaṁ āraññiko, araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Furthermore, the Buddha lives in the wilderness, frequenting remote lodgings in the wilderness and the forest. This is another reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn trong thời gian dài là vị sống ở rừng, Ngài thường lui tới các sàng tọa xa vắng, những nơi trú ẩn trong rừng sâu. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn trong thời gian dài là vị sống ở rừng, thường lui tới các sàng tọa xa vắng, những nơi trú ẩn trong rừng sâu, bạch Thế Tôn, con thấy rõ lý do này nên con hết mực khiêm cung đối với Thế Tôn và thể hiện sự kính mến.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā santuṭṭho itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena. Yampi, bhante, bhagavā santuṭṭho itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Yampi, bhante, bhagavā āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Furthermore, the Buddha is content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This is another reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
Furthermore, the Buddha is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. This is another reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất kỳ loại y phục, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh nào. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn biết đủ với bất kỳ loại y phục, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh nào, bạch Thế Tôn, con thấy rõ lý do này nên con hết mực khiêm cung đối với Thế Tôn và thể hiện sự kính mến. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc đáng được cúng dường, đáng được nghênh đón, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng của thế gian. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn là bậc đáng được cúng dường, đáng được nghênh đón, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng của thế gian, bạch Thế Tôn, con thấy rõ lý do này nên con hết mực khiêm cung đối với Thế Tôn và thể hiện sự kính mến.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā yāyaṁ kathā abhisallekhikā cetovivaraṇasappāyā, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā, evarūpāya kathāya nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī. Yampi, bhante, bhagavā yāyaṁ kathā abhisallekhikā cetovivaraṇasappāyā, seyyathidaṁ—appicchakathā …pe… vimuttiñāṇadassanakathā, evarūpāya kathāya nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Furthermore, the Buddha gets to take part in talk about self-effacement that helps open the heart, when he wants, without trouble or difficulty. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom. This is another reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đối với những câu chuyện có tác dụng làm tiêu mòn phiền não, thích hợp cho việc khai mở tâm trí, như là: chuyện về thiểu dục, chuyện về tri túc, chuyện về viễn ly, chuyện về không tụ tập, chuyện về tinh tấn, chuyện về giới, chuyện về định, chuyện về tuệ, chuyện về giải thoát, chuyện về giải thoát tri kiến, Thế Tôn có được những câu chuyện như vậy một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn đối với những câu chuyện có tác dụng làm tiêu mòn phiền não, thích hợp cho việc khai mở tâm trí, như là: chuyện về thiểu dục... cho đến... chuyện về giải thoát tri kiến, Ngài có được những câu chuyện như vậy một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc, bạch Thế Tôn, con thấy rõ lý do này nên con hết mực khiêm cung đối với Thế Tôn và thể hiện sự kính mến.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī. Yampi, bhante, bhagavā catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Furthermore, the Buddha gets the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when he wants, without trouble or difficulty. This is another reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đối với bốn tầng thiền thuộc về tăng thượng tâm, đem lại sự an lạc trong hiện tại, Ngài chứng đắc một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn đối với bốn tầng thiền thuộc về tăng thượng tâm, đem lại sự an lạc trong hiện tại, Ngài chứng đắc một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc, bạch Thế Tôn, con thấy rõ lý do này nên con hết mực khiêm cung đối với Thế Tôn và thể hiện sự kính mến.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Yampi, bhante, bhagavā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Furthermore, the Buddha recollects many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. He remembers: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so he recollects his many kinds of past lives, with features and details. This is another reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, như là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ như thế. Sau khi chết ở đó, ta đã sinh ra ở nơi này. Ở đó, ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ như thế. Sau khi chết ở đó, ta đã sinh ra ở đây.’ Như vậy, Ngài nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các chi tiết và đặc điểm của chúng. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, như là: một đời, hai đời... cho đến... như vậy, Ngài nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các chi tiết và đặc điểm của chúng, bạch Thế Tôn, con thấy rõ lý do này nên con hết mực khiêm cung đối với Thế Tôn và thể hiện sự kính mến.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti, iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati …pe… yathākammūpage satte pajānāti. Yampi, bhante, bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajānāti, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Furthermore, with clairvoyance that is purified and superhuman, the Buddha sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. He understands how sentient beings pass on according to their deeds. ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ He understands how sentient beings pass on according to their deeds. This is another reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, Thế Tôn thấy các chúng sinh đang chết, đang sinh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; Ngài biết rõ chúng sinh tùy theo nghiệp của họ: ‘Chư vị này, những chúng sinh này đã tạo thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ hành động theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị này, những chúng sinh này đã tạo thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ hành động theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sinh vào thiện thú, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, Thế Tôn thấy các chúng sinh... cho đến... Ngài biết rõ chúng sinh tùy theo nghiệp của họ. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm... cho đến... biết rõ chúng sinh tùy theo nghiệp của họ, bạch Thế Tôn, con thấy rõ lý do này nên con hết mực khiêm cung đối với Thế Tôn và thể hiện sự kính mến.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Yampi, bhante, bhagavā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ …pe… sacchikatvā upasampajja viharati, idampi kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Furthermore, the Buddha has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and lives having realized it with his own insight in this very life due to the ending of defilements. This is another reason that I act with such utmost deference for the Buddha, conveying my manifest love.
“Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc. Bạch Thế Tôn, chính vì Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc... đã chứng đạt và an trú, chính vì thấy được lợi ích này, bạch Thế Tôn, mà con đã thực hành sự hết mực khiêm cung và biểu lộ lòng kính mến đối với Thế Tôn.
Handa ca dāni mayaṁ, bhante, gacchāma. Bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, mahārāja, kālaṁ maññasī”ti. Atha kho rājā pasenadi kosalo uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmīti.
Dasamaṁ.
Well, now, sir, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, Great King, go at your convenience.” Then King Pasenadi rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
“Bạch Thế Tôn, giờ đây chúng con xin phép đi. Chúng con có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm.” “Thưa Đại vương, Ngài hãy đi vào lúc mà Ngài cho là phải thời.” Bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo chiều bên phải rồi ra về. (Kinh) thứ mười.
Mahāvaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Lớn, thứ ba.
Sīhādhivutti kāyena, cundena kasiṇena ca; Kāḷī ca dve mahāpañhā, kosalehi pare duveti.
Sīha, Adhimutti, Kāyena, Cunda, và Kasiṇa; Kāḷī, hai kinh Mahāpañhā, và hai kinh Kosala khác.