- Aṅguttara Nikāya 10.27
- 3. Mahāvagga
Bản dịch
AN 10.27 — Những Câu Hỏi Lớn (1)
Paṭhamamahāpañhāsutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ở khu vườn ông Anàthàpindika. Bấy giờ có rất nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Sàvatthi để khất thực. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi vào Sàvatthi khất thực. Chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
TTC 2—Thưa các Hiền giả, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú.” Thưa các Hiền giả, chúng tôi cũng thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú” .Ở đây, này chư Hiền, có sự đặc thù gì, có sự thù thắng gì, có sự thù thắng gì, có sự sai biệt gì giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, về thuyết pháp và thuyết pháp, hay về giáo giới và giáo giới?
TTC 3Rồi các Tỷ-kheo ấy, không hoan hỷ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy, cũng không phỉ báng, không hoan hỷ, không phỉ báng, các vị ấy đứng dậy và ra đi, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”. Rồi các Tỷ—kheo ấy, sau khi đi khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
TTC 4—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Rồi chúng con suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để vào Sàvatthi khất thực, vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, chúng con nói với các du sĩ ngoại đạo những lời chào hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, chúng con ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con đang ngồi xuống một bên: “Thưa các Hiền giả, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú”. Thưa các Hiền giả, chúng tôi cũng thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này chư Hiền, hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú”. Ở đây, này chư Hiền, có sự đặc thù gì, có sự sai biệt gì giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi về thuyết pháp và thuyết pháp, hay về giáo giới và giáo giới? “ Rồi bạch Thế Tôn, chúng con không hoan hỷ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy, cũng không phỉ báng, không hoan hỷ, không phỉ báng, chúng con đứng dậy và ra đi, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này của Thế Tôn”.
TTC 5—Này các Tỷ-kheo, được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy cần phải được nói như sau: “Này chư Hiền, một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời; hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời; ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời; bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố; bốn câu trả lời; năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời; sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời; bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời; tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời; chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời”. Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo ấy, sẽ không thể trả lời, hơn nữa sẽ rơi vào bối rối. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì vấn đề ấy vượt ngoài địa hạt của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai trong thế giới chư Thiên, với chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, với tâm thích thú trả lời những câu hỏi này, trừ Như Lai, hay những ai được từ hai vị này.
TTC 6Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong một pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong một pháp?
-—Tất cả chúng sanh đều tồn tại nhờ đồ ăn.
Trong một pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 7Hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong hai pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong hai pháp?
-—Trong danh và trong sắc.
Trong hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 8Ba câu hỏi, ba tuyên bố, ba câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong ba pháp?
-—Trong ba thọ.
Trong ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 9Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong bốn pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bốn pháp?
-—Trong bốn đồ ăn.
Trong bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 10Năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong năm pháp?
-—Trong năm thủ uẩn.
Trong năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
TTC 11Sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong sáu pháp?
-—Trong sáu nội xứ.
Trong sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 12Bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bảy pháp?
-—Trong bảy thức trú.
Trong bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 13Tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong tám pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong tám pháp?
-—Trong tám thế gian pháp.
Trong tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 14Chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong chín pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau… Thế nào là trong chín pháp?
-—Chín hữu tình cư.
Trong chín pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
TTC 15Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong mười pháp này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh, nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là mười pháp?
-—Trong mười thiện nghiệp đạo.
Trong mười pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, được nói lên như vậy. Do duyên này, được nói đến như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.27
- 3. The Great Chapter
The Great Questions (1st)
7. Kinh Đại Vấn Thứ Nhất
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisiṁsu. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi: “atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ; yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Sāvatthī for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Sāvatthī. Why don’t we visit the monastery for the wanderers of other religions?”
27. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, một số đông tỳ khưu, vào buổi sáng, đắp y, mang bát, vào thành Sāvatthī để khất thực. Rồi các tỳ khưu ấy suy nghĩ thế này: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Hay là chúng ta hãy đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo.’
Atha kho te bhikkhū yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
Then they went to the monastery for the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. The wanderers said to them:
Rồi các tỳ khưu ấy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo. Sau khi đến, họ đã cùng các du sĩ ngoại đạo ấy nói chuyện chào hỏi thân mật. Sau khi nói xong những lời chào hỏi thân mật, đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Khi các tỳ khưu ấy đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với họ điều này:
“Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘etha tumhe, bhikkhave, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathā’ti; mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema: ‘etha tumhe, āvuso, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathā’ti. Idha no, āvuso, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ anusāsaniyā vā anusāsanin”ti?
“Reverends, the ascetic Gotama teaches his disciples like this: ‘Please, mendicants, directly know all things. Meditate having directly known all things.’ We too teach our disciples: ‘Please, reverends, directly know all things. Live having directly known all things.’ What, then, is the difference between the ascetic Gotama’s teaching and instruction and ours?”
‘Này chư hiền, Sa-môn Gotama thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: ‘Này các tỳ khưu, các ông hãy đến, hãy biết tất cả các pháp, sau khi thắng tri tất cả các pháp, hãy an trú.’ Này chư hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: ‘Này chư hiền, các ông hãy đến, hãy biết tất cả các pháp, sau khi thắng tri tất cả các pháp, hãy an trú.’ Này chư hiền, ở đây, có gì đặc biệt, có gì vượt trội, có gì khác biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về sự thuyết pháp hay về sự giáo huấn?’
Atha kho te bhikkhū tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandiṁsu nappaṭikkosiṁsu. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu: “bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā”ti.
Those mendicants neither approved nor rejected that statement of the wanderers of other religions. They rose from their seats, thinking, “We will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.”
Bấy giờ, các tỳ khưu ấy không hoan hỷ, cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy. Không hoan hỷ, không phản đối, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi ra đi, (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ biết được ý nghĩa của lời nói này nơi Thế Tôn.’
Atha kho te bhikkhū sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then, after the meal, when they returned from almsround, they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Rồi các tỳ khưu ấy, sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, sau bữa ăn, đã trở về từ chuyến khất thực, liền đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi một bên, các tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn điều này:
“Idha mayaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisimhā. Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi: ‘atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ; yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamimhā; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodimhā. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdimhā. Ekamantaṁ nisinne kho, bhante, aññatitthiyā paribbājakā amhe etadavocuṁ:
‘Bạch Thế Tôn, hôm nay, vào buổi sáng, chúng con đắp y, mang bát, vào thành Sāvatthī để khất thực. Bạch Thế Tôn, chúng con đã suy nghĩ thế này: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Hay là chúng ta hãy đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo.’ Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đã đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo. Sau khi đến, chúng con đã cùng các du sĩ ngoại đạo ấy nói chuyện chào hỏi thân mật. Sau khi nói xong những lời chào hỏi thân mật, đáng ghi nhớ, chúng con ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, khi chúng con đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con điều này:
‘Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti—etha tumhe, bhikkhave, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathāti; mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema—etha tumhe, āvuso, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathāti. Idha no, āvuso, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ anusāsaniyā vā anusāsanin’ti?
‘Này chư hiền, Sa-môn Gotama thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: ‘Này các tỳ khưu, các ông hãy đến, hãy biết tất cả các pháp, sau khi thắng tri tất cả các pháp, hãy an trú.’ Này chư hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: ‘Này chư hiền, các ông hãy đến, hãy biết tất cả các pháp, sau khi thắng tri tất cả các pháp, hãy an trú.’ Này chư hiền, ở đây, có gì đặc biệt, có gì vượt trội, có gì khác biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về sự thuyết pháp hay về sự giáo huấn?’
Atha kho mayaṁ, bhante, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandimhā nappaṭikkosimhā. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamimhā: ‘bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā’”ti.
‘Bạch Thế Tôn, bấy giờ, chúng con không hoan hỷ, cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy. Không hoan hỷ, không phản đối, chúng con đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi ra đi, (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ biết được ý nghĩa của lời nói này nơi Thế Tôn.’
“Evaṁvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘eko, āvuso, pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇaṁ, dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇāni, tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇāni, cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇāni, pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇāni, cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇāni, satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇāni, aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇāni, nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇāni, dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti. Evaṁ puṭṭhā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā na ceva sampāyissanti, uttari ca vighātaṁ āpajjissanti. Taṁ kissa hetu? Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmiṁ. Nāhaṁ taṁ, bhikkhave, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, aññatra tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā ito vā pana sutvā.
“Mendicants, when wanderers of other religions say this, you should say to them: ‘One thing: question, summary recital, and answer. Two … Three … Four … Five … Six … Seven … Eight … Nine … Ten things: question, summary recital, and answer.’ Questioned like this, the wanderers of other religions would be stumped, and, in addition, would get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element. I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could provide a satisfying answer to these questions except the Realized One or his disciple or someone who has heard it from them.
Này các tỳ khưu, các du sĩ ngoại đạo có quan điểm như vậy nên được nói như vầy: 'Này chư hiền, có một câu hỏi, một đề mục, một lời giải đáp; hai câu hỏi, hai đề mục, hai lời giải đáp; ba câu hỏi, ba đề mục, ba lời giải đáp; bốn câu hỏi, bốn đề mục, bốn lời giải đáp; năm câu hỏi, năm đề mục, năm lời giải đáp; sáu câu hỏi, sáu đề mục, sáu lời giải đáp; bảy câu hỏi, bảy đề mục, bảy lời giải đáp; tám câu hỏi, tám đề mục, tám lời giải đáp; chín câu hỏi, chín đề mục, chín lời giải đáp; mười câu hỏi, mười đề mục, mười lời giải đáp.' Này các tỳ khưu, khi được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể trả lời được, và hơn nữa sẽ rơi vào tình trạng khốn đốn. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì đó không phải là lĩnh vực của họ. Này các tỳ khưu, Ta không thấy một ai trong thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong chúng sinh này cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, có thể làm hài lòng tâm trí bằng lời giải đáp cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hoặc đệ tử của Như Lai, hoặc người đã nghe từ đây.
‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Ekadhamme, bhikkhave, bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamasmiṁ ekadhamme? ‘Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā’—imasmiṁ kho, bhikkhave, ekadhamme bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘One thing: question, summary recital, and answer.’ That’s what I said, but why did I say it? Becoming completely disillusioned, dispassionate, and freed regarding one thing, seeing its limits and fully comprehending its meaning, a mendicant makes an end of suffering in this very life. What one thing? ‘All sentient beings are sustained by food.’ Becoming completely disillusioned, dispassionate, and freed regarding this one thing, seeing its limits and fully comprehending its meaning, a mendicant makes an end of suffering in this very life. ‘One thing: question, summary recital, and answer.’ That’s what I said, and this is why I said it.
'Một câu hỏi, một đề mục, một lời giải đáp', lời này đã được nói như vậy. Duyên vào đâu mà nói lời này? Này các tỳ khưu, đối với một pháp, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong một pháp nào? 'Tất cả chúng sinh tồn tại nhờ vật thực'. Này các tỳ khưu, chính trong một pháp này, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. 'Một câu hỏi, một đề mục, một lời giải đáp', lời đã được nói đó là duyên vào điều này mà nói.
‘Dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Dvīsu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu dvīsu? Nāme ca rūpe ca—imesu kho, bhikkhave, dvīsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What two? Name and form. …
'Hai câu hỏi, hai đề mục, hai lời giải đáp', lời này đã được nói như vậy. Duyên vào đâu mà nói lời này? Này các tỳ khưu, đối với hai pháp, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong hai pháp nào? Trong danh và sắc. Này các tỳ khưu, chính trong hai pháp này, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. 'Hai câu hỏi, hai đề mục, hai lời giải đáp', lời đã được nói đó là duyên vào điều này mà nói.
‘Tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tīsu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu tīsu? Tīsu vedanāsu—imesu kho, bhikkhave, tīsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What three? Three feelings. …
'Ba câu hỏi, ba đề mục, ba lời giải đáp', lời này đã được nói như vậy. Duyên vào đâu mà nói lời này? Này các tỳ khưu, đối với ba pháp, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong ba pháp nào? Trong ba loại cảm thọ. Này các tỳ khưu, chính trong ba pháp này, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. 'Ba câu hỏi, ba đề mục, ba lời giải đáp', lời đã được nói đó là duyên vào điều này mà nói.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Catūsu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu catūsu? Catūsu āhāresu—imesu kho, bhikkhave, catūsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What four? The four foods. …
'Bốn câu hỏi, bốn đề mục, bốn lời giải đáp', lời này đã được nói như vậy. Duyên vào đâu mà nói lời này? Này các tỳ khưu, đối với bốn pháp, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong bốn pháp nào? Trong bốn loại vật thực. Này các tỳ khưu, chính trong bốn pháp này, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. 'Bốn câu hỏi, bốn đề mục, bốn lời giải đáp', lời đã được nói đó là duyên vào điều này mà nói.
‘Pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Pañcasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu pañcasu? Pañcasu upādānakkhandhesu—imesu kho, bhikkhave, pañcasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What five? The five grasping aggregates. …
'Năm câu hỏi, năm đề mục, năm lời giải đáp', lời này đã được nói như vậy. Duyên vào đâu mà nói lời này? Này các tỳ khưu, đối với năm pháp, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Trong năm pháp nào? Trong năm thủ uẩn. Này các tỳ khưu, chính trong năm pháp này, vị tỳ khưu do chán ngán đúng đắn, do ly tham đúng đắn, do giải thoát đúng đắn, do thấy rõ giới hạn đúng đắn, sau khi đã thấu triệt chân nghĩa, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. 'Năm câu hỏi, năm đề mục, năm lời giải đáp', lời đã được nói đó là duyên vào điều này mà nói.
‘Cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Chasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu chasu? Chasu ajjhattikesu āyatanesu—imesu kho, bhikkhave, chasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What six? The six interior sense fields. …
“‘Sáu câu hỏi, sáu đề mục, sáu sự giải đáp’, điều này đã được nói đến. Và điều này được nói đến là do duyên vào đâu? Này các tỳ khưu, ở trong sáu pháp, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, là người thấy được giới hạn một cách chân chánh, sau khi đã thông suốt ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Ở trong sáu pháp nào? Ở trong sáu nội xứ. Này các tỳ khưu, chính là ở trong sáu pháp này, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, là người thấy được giới hạn một cách chân chánh, sau khi đã thông suốt ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Sáu câu hỏi, sáu đề mục, sáu sự giải đáp’, điều đã được nói đến ấy là do duyên vào điều này mà được nói đến.
‘Satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Sattasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu sattasu? Sattasu viññāṇaṭṭhitīsu—imesu kho, bhikkhave, sattasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What seven? The seven planes of consciousness. …
“‘Bảy câu hỏi, bảy đề mục, bảy sự giải đáp’, điều này đã được nói đến. Và điều này được nói đến là do duyên vào đâu? Này các tỳ khưu, ở trong bảy pháp, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, là người thấy được giới hạn một cách chân chánh, sau khi đã thông suốt ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Ở trong bảy pháp nào? Ở trong bảy trú của thức. Này các tỳ khưu, chính là ở trong bảy pháp này, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, là người thấy được giới hạn một cách chân chánh, sau khi đã thông suốt ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Bảy câu hỏi, bảy đề mục, bảy sự giải đáp’, điều đã được nói đến ấy là do duyên vào điều này mà được nói đến.
‘Aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Aṭṭhasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu aṭṭhasu? Aṭṭhasu lokadhammesu—imesu kho, bhikkhave, aṭṭhasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno …pe… dukkhassantakaro hoti. ‘Aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What eight? The eight worldly conditions. …
“‘Tám câu hỏi, tám đề mục, tám sự giải đáp’, điều này đã được nói đến. Và điều này được nói đến là do duyên vào đâu? Này các tỳ khưu, ở trong tám pháp, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, là người thấy được giới hạn một cách chân chánh, sau khi đã thông suốt ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Ở trong tám pháp nào? Ở trong tám pháp thế gian. Này các tỳ khưu, chính là ở trong tám pháp này, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, ... đến ... trở thành người chấm dứt khổ đau. ‘Tám câu hỏi, tám đề mục, tám sự giải đáp’, điều đã được nói đến ấy là do duyên vào điều này mà được nói đến.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Navasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu navasu? Navasu sattāvāsesu—imesu kho, bhikkhave, navasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
What nine? The nine abodes of sentient beings. …
“‘Chín câu hỏi, chín đề mục, chín sự giải đáp’, điều này đã được nói đến. Và điều này được nói đến là do duyên vào đâu? Này các tỳ khưu, ở trong chín pháp, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, là người thấy được giới hạn một cách chân chánh, sau khi đã thông suốt ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Ở trong chín pháp nào? Ở trong chín trú của chúng sanh. Này các tỳ khưu, chính là ở trong chín pháp này, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, là người thấy được giới hạn một cách chân chánh, sau khi đã thông suốt ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Chín câu hỏi, chín đề mục, chín sự giải đáp’, điều đã được nói đến ấy là do duyên vào điều này mà được nói đến.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Dasasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. Katamesu dasasu? Dasasu akusalesu kammapathesu—imesu kho, bhikkhave, dasasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti. ‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Sattamaṁ.
‘Ten things: question, summary recital, and answer.’ That’s what I said, but why did I say it? Becoming completely disillusioned, dispassionate, and freed regarding ten things, seeing their limits and fully comprehending their meaning, a mendicant makes an end of suffering in this very life. What ten? The ten ways of performing unskillful deeds. Becoming completely disillusioned, dispassionate, and freed regarding these ten things, seeing their limits and fully comprehending their meaning, a mendicant makes an end of suffering in this very life. ‘Ten things: question, summary recital, and answer.’ That’s what I said, and this is why I said it.”
“‘Mười câu hỏi, mười đề mục, mười sự giải đáp’, điều này đã được nói đến. Và điều này được nói đến là do duyên vào đâu? Này các tỳ khưu, ở trong mười pháp, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, là người thấy được giới hạn một cách chân chánh, sau khi đã thông suốt ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Ở trong mười pháp nào? Ở trong mười nghiệp đạo bất thiện. Này các tỳ khưu, chính là ở trong mười pháp này, vị tỳ khưu do nhàm chán một cách chân chánh, do ly tham một cách chân chánh, do giải thoát một cách chân chánh, là người thấy được giới hạn một cách chân chánh, sau khi đã thông suốt ý nghĩa một cách chân chánh, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. ‘Mười câu hỏi, mười đề mục, mười sự giải đáp’, điều đã được nói đến ấy là do duyên vào điều này mà được nói đến.” (Hết) bài kinh thứ bảy.