- Aṅguttara Nikāya 10.211
- 21. Karajakāyavagga
Bản dịch
AN 10.211 — Ðịa Ngục, Thiên Giới
Paṭhamanirayasaggasutta
TTC 1Thành tựu mười pháp, tương xứng như vậy, như vậy bị rơi vào địa ngục. Thế nào là mười?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sát sanh, hung bạo, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài hữu tình và sinh vật. Người ấy lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh trong các dục, tà hạnh với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh em che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới). Người ấy nói láo, đến chỗ tập hội hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì ông biết”; dầu không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy lời nói của người ấy trở thành cố ý nói láo, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì. Người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này. Nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi giục những kẻ ly gián, ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, thích thú chia rẽ, nói những lời đưa đến chia rẽ. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô bạo, thô tục, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi Luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Người ấy có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình! “. Có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại! “. Người ấy có tà kiến, có tưởng điên đảo, như: “Không có bố thí, không có cúng thí, không có thiện thí, các hành vi thiện ác không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”.
Thành tựu mười pháp này, người ấy như vậy tương xứng rơi vào địa ngục.
TTC 3Thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng, được sanh lên cõi Trời. Thế nào là mười?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm; biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và các loài hữu tình và sinh vật; đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, bất cứ vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy; đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục, không hành tà hạnh với các hạng nữ nhân, có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới). Người ấy đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, đến chỗ tập hội hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này ông kia, hãy nói những gì ông biết”. Nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết”. Nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì. Ðoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi đến nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hiệp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Ðoạn tận lời nói thô ác, từ bỏ lời nói thô ác. Những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy. Ðoạn tận lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói đúng Pháp, nói đúng Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có lợi ích. Ở đây có người không tham ái, không tham lam tài vật kẻ khác, không nghĩ rằng: “Ôi! Mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình! “. Lại có người không có sân tâm, không khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân”. Có chánh kiến, không có tư tưởng điên đảo, nghĩ rằng: “Có bố thí, có cúng thí, có tế tự, các hành vi thiện ác có kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng, lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”.
“Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.211
- 21. The Body Born of Deeds
Heaven and Hell (1st)
1. Kinh Địa Ngục và Thiên Giới, Kinh Thứ Nhất
“Dasahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Katamehi dasahi? Idha, bhikkhave, ekacco pāṇātipātī hoti, luddo lohitapāṇi hatapahate niviṭṭho adayāpanno sabbapāṇabhūtesu.
“Someone with ten qualities is placed in hell as if delivered there. What ten? It’s when someone kills living creatures. They’re violent, bloody-handed, a hardened killer, merciless to all living beings.
211. “Này các Tỳ khưu, người thành tựu mười pháp, cũng giống như vật được mang đến rồi đặt xuống, cũng vậy, bị ném vào địa ngục. Mười pháp ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người là kẻ sát sanh, hung bạo, tay vấy máu, chuyên tâm đập đánh, không có lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh.”
Adinnādāyī hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ gāmagataṁ vā araññagataṁ vā, taṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti.
They steal. With the intention to commit theft, they take the wealth or belongings of others from village or wilderness.
“Là người lấy của không cho. Bất cứ tài sản, vật dụng nào của người khác, hoặc ở trong làng hoặc ở trong rừng, người ấy lấy vật ấy không được cho, với tâm trộm cắp.”
Kāmesu micchācārī hoti, yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sasāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu cārittaṁ āpajjitā hoti.
They commit sexual misconduct. They have relations with women who have their mother, father, both mother and father, brother, sister, relatives, or clan as guardian. They have relations with a woman who is protected on principle, or who has a husband, or whose violation is punishable by law, or even one who has been garlanded as a token of betrothal.
“Là người tà hạnh trong các dục. Người ấy quan hệ với những người nữ có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh em che chở, có chị em che chở, có bà con che chở, có dòng họ che chở, có pháp che chở, có chồng, có hình phạt, cho đến người nữ đã được trang điểm bằng vòng hoa. Người ấy phạm vào các trường hợp như vậy.”
Musāvādī hoti, sabhaggato vā parisaggato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho: ‘ehambho purisa, yaṁ jānāsi taṁ vadehī’ti, so ajānaṁ vā āha: ‘jānāmī’ti, jānaṁ vā āha: ‘na jānāmī’ti, apassaṁ vā āha: ‘passāmī’ti, passaṁ vā āha: ‘na passāmī’ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā sampajānamusā bhāsitā hoti.
They lie. They’re summoned to a council, an assembly, a family meeting, a guild, or to the royal court, and asked to bear witness: ‘Please, my man, say what you know.’ Not knowing, they say ‘I know.’ Knowing, they say ‘I don’t know.’ Not seeing, they say ‘I see.’ And seeing, they say ‘I don’t see.’ So they deliberately lie for the sake of themselves or another, or for some trivial worldly reason.
Vị ấy là người nói dối. Hoặc ở giữa hội chúng, hoặc ở giữa hội đồng, hoặc ở giữa những người thân tộc, hoặc ở giữa đoàn thể, hoặc ở giữa hoàng tộc, khi được dẫn đến và được hỏi làm nhân chứng rằng: ‘Này khanh, hãy đến đây, điều gì khanh biết thì hãy nói điều ấy.’ Người ấy, dù không biết, lại nói: ‘Tôi biết;’ hoặc dù biết, lại nói: ‘Tôi không biết;’ hoặc dù không thấy, lại nói: ‘Tôi thấy;’ hoặc dù thấy, lại nói: ‘Tôi không thấy.’ Như vậy, hoặc vì bản thân, hoặc vì người khác, hoặc vì một chút lợi lộc vật chất nào đó, vị ấy cố ý nói lời dối trá.
Pisuṇavāco hoti, ito sutvā amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti samaggānaṁ vā bhettā bhinnānaṁ vā anuppadātā vaggārāmo vaggarato vagganandī, vaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They backbite. They repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. And so they divide those who are harmonious, supporting division, delighting in division, loving division, speaking words that promote division.
Vị ấy là người nói lời đâm thọc. Nghe điều gì ở đây, vị ấy đi nói ở nơi kia để gây chia rẽ những người này; hoặc nghe điều gì ở nơi kia, vị ấy đi nói với những người này để gây chia rẽ những người nọ. Như vậy, vị ấy là người gây chia rẽ những ai hòa hợp, hoặc là người khuyến khích những ai đã chia rẽ; vị ấy ưa thích bè phái, vui thích trong bè phái, hoan hỷ trong bè phái, và nói những lời gây ra bè phái.
Pharusavāco hoti, yā sā vācā aṇḍakā kakkasā parakaṭukā parābhisajjanī kodhasāmantā asamādhisaṁvattanikā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They speak harshly. They use the kinds of words that are cruel, nasty, hurtful, offensive, bordering on anger, not leading to immersion.
Vị ấy là người nói lời thô ác. Lời nói nào mà cứng cỏi, thô thiển, cay độc đối với người khác, xúc phạm đến người khác, gần với sự phẫn nộ, không đưa đến định tâm, vị ấy nói những lời như vậy.
Samphappalāpī hoti, akālavādī abhūtavādī anatthavādī adhammavādī avinayavādī, anidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti akālena anapadesaṁ apariyantavatiṁ anatthasaṁhitaṁ.
They talk nonsense. Their speech is untimely, and is neither factual nor beneficial. It has nothing to do with the teaching or the training. Their words have no value, and are untimely, unreasonable, rambling, and pointless.
Vị ấy là người nói lời vô ích. Vị ấy nói không đúng thời, nói điều không thật, nói điều không lợi ích, nói điều phi pháp, nói điều phi luật. Vị ấy nói những lời không đáng ghi nhớ, nói không đúng lúc, không có dẫn chứng, không có giới hạn, không liên quan đến lợi ích.
Abhijjhālu hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ taṁ abhijjhātā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mama assā’ti.
They’re covetous. They covet the wealth and belongings of others: ‘Oh, if only their belongings were mine!’
Vị ấy là người có lòng tham lam. Vị ấy thèm muốn tài sản và vật dụng của người khác, nghĩ rằng: ‘Ôi, mong sao những gì của người khác lại là của mình!’
Byāpannacitto hoti, paduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā haññantu vā bajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā vā ahesun’ti.
They have ill will and malicious intentions: ‘May these sentient beings be killed, slaughtered, slain, destroyed, or annihilated!’
Vị ấy là người có tâm sân hận, có ý định ác độc, nghĩ rằng: ‘Mong sao những chúng sanh này bị giết, hoặc bị trói, hoặc bị tiêu diệt, hoặc bị hủy hoại, hoặc không còn tồn tại!’
Micchādiṭṭhiko hoti, viparītadassano: ‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. Imehi kho, bhikkhave, dasahi dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
They have wrong view. Their perspective is distorted: ‘There’s no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.’ Someone with these ten qualities is placed in hell as if delivered there.
Vị ấy là người có tà kiến, có tri kiến sai lệch, cho rằng: ‘Không có (kết quả của) sự bố thí, không có (kết quả của) sự cúng dường, không có (kết quả của) sự tế lễ; không có kết quả dị thục của các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các chúng sanh hóa sanh; ở đời không có các vị Sa-môn, Bà-la-môn đã đạt đến chánh đạo, đã thực hành chánh đạo, là những người đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên thuyết về đời này và đời sau.’ Này các Tỳ khưu, người nào thành tựu mười pháp này, cũng giống như vật được mang đến rồi đặt xuống, sẽ bị đặt vào địa ngục như vậy.
Dasahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge. Katamehi dasahi? Idha, bhikkhave, ekacco pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
Someone with ten qualities is placed in heaven as if delivered there. What ten? It’s when someone gives up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings.
Này các Tỳ khưu, người nào thành tựu mười pháp, cũng giống như vật được mang đến rồi đặt xuống, sẽ được đặt vào cõi trời như vậy. Mười pháp ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã bỏ trượng, đã bỏ kiếm, có lòng tàm, có lòng bi, sống với lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ gāmagataṁ vā araññagataṁ vā, na taṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti.
They give up stealing. They don’t, with the intention to commit theft, take the wealth or belongings of others from village or wilderness.
Vị ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho. Bất cứ tài sản và vật dụng nào của người khác, hoặc ở trong làng, hoặc ở trong rừng, vị ấy không lấy vật không được cho với ý định trộm cắp.
Kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭivirato hoti. Yā tā māturakkhitā …pe… antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu na cārittaṁ āpajjitā hoti.
They give up sexual misconduct. They don’t have relations with women who have their mother, father, both mother and father, brother, sister, relatives, or clan as guardian. They don’t have relations with a woman who is protected on principle, or who has a husband, or whose violation is punishable by law, or even one who has been garlanded as a token of betrothal.
Vị ấy từ bỏ tà hạnh trong các dục, tránh xa tà hạnh trong các dục. Vị ấy không phạm vào (quan hệ với) những người phụ nữ có mẹ che chở, ... cho đến cả những người đã được hứa hôn bằng vòng hoa, những người phụ nữ như vậy.
Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti. Sabhaggato vā parisaggato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho: ‘ehambho purisa, yaṁ jānāsi taṁ vadehī’ti, so ajānaṁ vā āha: ‘na jānāmī’ti, jānaṁ vā āha: ‘jānāmī’ti, apassaṁ vā āha: ‘na passāmī’ti, passaṁ vā āha: ‘passāmī’ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā na sampajānamusā bhāsitā hoti.
They give up lying. They’re summoned to a council, an assembly, a family meeting, a guild, or to the royal court, and asked to bear witness: ‘Please, my man, say what you know.’ Not knowing, they say ‘I don’t know.’ Knowing, they say ‘I know.’ Not seeing, they say ‘I don’t see.’ And seeing, they say ‘I see.’ So they don’t deliberately lie for the sake of themselves or another, or for some trivial worldly reason.
Vị ấy từ bỏ lời nói dối, tránh xa lời nói dối. Hoặc ở giữa hội chúng, hoặc ở giữa hội đồng, hoặc ở giữa những người thân tộc, hoặc ở giữa đoàn thể, hoặc ở giữa hoàng tộc, khi được dẫn đến và được hỏi làm nhân chứng rằng: ‘Này khanh, hãy đến đây, điều gì khanh biết thì hãy nói điều ấy.’ Người ấy, dù không biết, lại nói: ‘Tôi không biết;’ hoặc dù biết, lại nói: ‘Tôi biết;’ hoặc dù không thấy, lại nói: ‘Tôi không thấy;’ hoặc dù thấy, lại nói: ‘Tôi thấy.’ Như vậy, hoặc vì bản thân, hoặc vì người khác, hoặc vì một chút lợi lộc vật chất nào đó, vị ấy không cố ý nói lời dối trá.
Pisuṇavācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti—na ito sutvā amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā samaggārāmo samaggarato samagganandī, samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony.
Vị ấy từ bỏ lời nói đâm thọc, tránh xa lời nói đâm thọc. Vị ấy không nghe điều gì ở đây rồi đi nói ở nơi kia để gây chia rẽ những người này; hoặc không nghe điều gì ở nơi kia rồi đi nói với những người này để gây chia rẽ những người nọ. Như vậy, vị ấy là người hàn gắn những ai đã chia rẽ, hoặc là người khuyến khích những ai đã hòa hợp; vị ấy ưa thích sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, và nói những lời tạo ra sự hòa hợp.
Pharusavācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people.
Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác. Lời nói nào không có lỗi, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người ưa thích, được nhiều người hài lòng, vị ấy nói những lời như vậy.
Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī, atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial.
Vị ấy từ bỏ lời nói vô ích, tránh xa lời nói vô ích. Vị ấy nói đúng thời, nói điều chân thật, nói điều lợi ích, nói đúng pháp, nói đúng luật. Vị ấy nói những lời đáng ghi nhớ, nói đúng lúc, có dẫn chứng, có giới hạn, liên quan đến lợi ích.
Anabhijjhālu hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ taṁ anabhijjhātā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mama assā’ti.
They’re content. They don’t covet the wealth and belongings of others: ‘Oh, if only their belongings were mine!’
Vị ấy là người không có lòng tham lam. Vị ấy không thèm muốn tài sản và vật dụng của người khác, không khởi lên ý nghĩ: ‘Ôi, mong sao những gì của người khác lại là của mình!’
Abyāpannacitto hoti appaduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā averā hontu abyāpajjā anīghā, sukhī attānaṁ pariharantū’ti.
They have a kind heart and loving intentions: ‘May these sentient beings live free of enmity and ill will, untroubled and happy!’
Vị ấy là người có tâm không sân hận, có ý định không ác độc, nghĩ rằng: ‘Mong sao những chúng sanh này được vô oán, vô ưu, vô não, được sống an lạc và tự bảo hộ mình!’
Sammādiṭṭhiko hoti aviparītadassano: ‘atthi dinnaṁ, atthi yiṭṭhaṁ, atthi hutaṁ, atthi sukaṭadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
Imehi kho, bhikkhave, dasahi dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge”ti.
Paṭhamaṁ.
They have right view, an undistorted perspective: ‘There is meaning in giving, sacrifice, and offerings. There are fruits and results of good and bad deeds. There is an afterlife. There are such things as mother and father, and beings that are reborn spontaneously. And there are ascetics and brahmins who are rightly comported and rightly practiced, and who describe the afterlife after realizing it with their own insight.’
Someone with these ten qualities is placed in heaven as if delivered there.”
Vị ấy là người có chánh kiến, có tri kiến không sai lệch, cho rằng: ‘Có (kết quả của) sự bố thí, có (kết quả của) sự cúng dường, có (kết quả của) sự tế lễ; có kết quả dị thục của các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có các chúng sanh hóa sanh; ở đời có các vị Sa-môn, Bà-la-môn đã đạt đến chánh đạo, đã thực hành chánh đạo, là những người đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên thuyết về đời này và đời sau.’ Này các Tỳ khưu, người nào thành tựu mười pháp này, cũng giống như vật được mang đến rồi đặt xuống, sẽ được đặt vào cõi trời như vậy. (Kinh) thứ nhất.