- Aṅguttara Nikāya 10.20
- 2. Nāthavagga
Bản dịch
AN 10.20 — Thánh Cư (2)
Dutiyaariyāvāsasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru tại một thị trấn của dân tộc Kuru gọi là Kammàsadhama. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo… Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, có mười Thánh cư này, với những Thánh cư này, các vị Thánh đã sống, đang sống, và sẽ sống. Thế nào là mười?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần, thành tựu sáu chi phần, hộ trì một sự, đầy đủ bốn y cứ, trừ khử sự thật cá nhân, đã đoạn tận hoàn toàn các tầm cầu, các tư duy không có uế trược, thân hành được khinh an, tâm được khéo giải thoát, tuệ được giải thoát.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã đoạn tận năm chi phần?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận dục tham, đoạn tận sân, đoạn tận hôn trầm thụy miên, đoạn tận trạo hối, đoạn tận nghi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thành tựu sáu chi phần?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc không có hân hoan, không có thất vọng, trú xả chánh niệm tỉnh giác; khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc, khi ý biết pháp, không có hân hoan, không có thất vọng, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo thành tựu sáu chi phần.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì một sự?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo thành tựu với tâm được niệm hộ trì. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì một sự. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ bốn y cứ?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có đắn đo thân cận một sự, có đắn đo kham nhẫn một sự, có đắn đo tránh né một sự, có đắn đo trừ khử một sự. Như vậy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ bốn y cứ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo trừ khử sự thật cá nhân?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với những sự sai biệt phổ thông được các Sa-môn, Bà-la-môn phổ thông chấp nhận, như: “Thế giới là thường còn, thế giới là không thường còn; thế giới có giới hạn, thế giới không giới hạn, sinh mạng với thân thể là một, sinh mạng với thân thể là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”… Tất cả những tin tưởng được trừ diệt, trừ bỏ, xả bỏ, quăng bỏ giải tỏa, đoạn tận, từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo trừ khử những sự thật cá nhân.
Và này các Tỷ-kheo, như thế là Tỷ-kheo đã được tận hoàn toàn các tầm cầu?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn tận dục tầm cầu, đã đoạn tận hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu được khinh an. Như vậy, này Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã đoạn tận hoàn toàn các tầm cầu.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Ty-kheo các tư duy không có uế trược?
TTC 10Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ty-kheo đã đoạn tận dục tư duy, đã đoạn tận sân tư duy, đã đoạn tận hại tư duy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là các tư duy không có uế trược.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tâm hành được khinh an?
TTC 11Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn khổ, đoạn lạc, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú Thiền Thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tâm hành được khinh an.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo tâm được khéo giải thoát?
TTC 12Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tâm được giải thoát khỏi tham, tâm được giải thoát khỏi sân, tâm được giải thoát khỏi si. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tâm được khéo giải thoát.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo với tuệ khéo giải thoát?
TTC 13Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rõ biết rằng: “Tham ái đã được đoạn tận nơi ta, được chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai”, rõ biết rằng: “Sân đã được đoạn tận nơi ta… trong tương lai”, rõ biết rằng: “Si đã được đoạn tận nơi ta, được chặt đứt từ gốc rễ, làm cho thân cây tàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. “Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo với tuệ khéo giải thoát.
TTC 14Này các Tỷ-kheo, tất cả những vị Thánh nào trong quá khứ đã sống theo Thánh cư, tất cả những vị ấy đã sống theo mười Thánh cư này. Này các Tỷ-kheo, tất cả những vị Thánh nào trong tương lai sẽ sống theo Thánh cư, tất cả những vị ấy sẽ sống theo mười Thánh cư này. Này các Tỷ-kheo, tất cả những vị Thánh nào trong hiện tại sống theo Thánh cư, tất cả những vị ấy đang sống theo mười Thánh cư này.
Này các Tỷ-kheo, đây là mười Thánh cư mà các vị Thánh đã sống đang sống, và sẽ sống.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.20
- 2. A Protector
Abodes of the Noble Ones (2nd)
10. Kinh Trú Xứ Bậc Thánh Thứ Hai
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṁ nāma kurūnaṁ nigamo. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi …pe….
At one time the Buddha was staying in the land of the Kurus, near the Kuru town named Kammāsadamma. There the Buddha addressed the mendicants:
20. Một thời, Đức Thế Tôn trú ở xứ Kuru, tại một thị trấn của người Kuru tên là Kammāsadhamma. Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu... v.v...
“Dasayime, bhikkhave, ariyāvāsā, ye ariyā āvasiṁsu vā āvasanti vā āvasissanti vā. Katame dasa? Idha, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti, chaḷaṅgasamannāgato, ekārakkho, caturāpasseno, paṇunnapaccekasacco, samavayasaṭṭhesano, anāvilasaṅkappo, passaddhakāyasaṅkhāro, suvimuttacitto, suvimuttapañño.
“There are these ten abodes of the noble ones in which the noble ones of the past, present, and future abide. What ten? A mendicant has given up five factors, possesses six factors, has a single guard, has four supports, has cast aside idiosyncratic interpretations of the truth, has totally given up searching, has unsullied intentions, has stilled the physical process, and is well freed in mind and well freed by wisdom.
Này các Tỳ khưu, có mười trú xứ của bậc Thánh này, nơi mà các bậc Thánh đã trú, đang trú, hoặc sẽ trú. Mười trú xứ ấy là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đã từ bỏ năm chi phần, thành tựu sáu chi phần, có một sự phòng hộ, có bốn nơi nương tựa, đã loại trừ các chân lý riêng lẻ, đã từ bỏ sự tìm cầu một cách đúng đắn, có tư duy không bị khuấy động, có thân hành đã được an tịnh, có tâm giải thoát tốt đẹp, có trí tuệ giải thoát tốt đẹp.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti.
And how has a mendicant given up five factors? It’s when a mendicant has given up sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. That’s how a mendicant has given up five factors.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu đã từ bỏ năm chi phần? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đã từ bỏ tham dục, đã từ bỏ sân hận, đã từ bỏ hôn trầm thụy miên, đã từ bỏ trạo cử hối quá, đã từ bỏ hoài nghi. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu đã từ bỏ năm chi phần.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Sotena saddaṁ sutvā … ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti.
And how does a mendicant possess six factors? It’s when a mendicant, seeing a sight with their eyes, is neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware. Hearing a sound with their ears … Smelling an odor with their nose … Tasting a flavor with their tongue …
Encountering a touch with their body … Knowing an idea with their mind, they’re neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware. That’s how a mendicant possesses six factors.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu thành tựu sáu chi phần? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, không vui mừng, không buồn rầu, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Sau khi nghe tiếng bằng tai... ngửi hương bằng mũi... nếm vị bằng lưỡi... xúc chạm bằng thân... nhận biết pháp bằng ý, không vui mừng, không buồn rầu, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu thành tựu sáu chi phần.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ekārakkho hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu satārakkhena cetasā samannāgato hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ekārakkho hoti.
And how does a mendicant have a single guard? It’s when a mendicant’s heart is guarded by mindfulness. That’s how a mendicant has a single guard.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có một sự phòng hộ? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thành tựu tâm được phòng hộ bằng chánh niệm. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu có một sự phòng hộ.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu caturāpasseno hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu saṅkhāyekaṁ paṭisevati, saṅkhāyekaṁ adhivāseti, saṅkhāyekaṁ parivajjeti, saṅkhāyekaṁ vinodeti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu caturāpasseno hoti.
And how does a mendicant have four supports? After appraisal, a mendicant uses some things, endures some things, avoids some things, and dispels some things. That’s how a mendicant has four supports.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có bốn nơi nương tựa? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi suy xét, thọ dụng một số thứ; sau khi suy xét, kham nhẫn một số thứ; sau khi suy xét, tránh né một số thứ; sau khi suy xét, loại trừ một số thứ. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu có bốn nơi nương tựa.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno yāni tāni puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ puthupaccekasaccāni, seyyathidaṁ: ‘sassato loko’ti vā, ‘asassato loko’ti vā, ‘antavā loko’ti vā, ‘anantavā loko’ti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, sabbāni tāni nunnāni honti paṇunnāni cattāni vantāni muttāni pahīnāni paṭinissaṭṭhāni. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti.
And how has a mendicant cast aside idiosyncratic interpretations of the truth? Different ascetics and brahmins have different idiosyncratic interpretations of the truth. For example: the cosmos is eternal, or not eternal, or finite, or infinite; the soul and the body are one and the same, or the soul is one thing, the body another; after death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists. A mendicant has cast out, cast aside, thrown out, discarded, let go of, given up, and relinquished all these. That’s how a mendicant has cast aside idiosyncratic interpretations of the truth.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu đã loại bỏ các chân lý riêng lẻ? Này các Tỳ khưu, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, những chân lý riêng lẻ đa dạng của các Sa-môn, Bà-la-môn đa dạng, ví như: ‘Thế gian là thường hằng’, hoặc ‘Thế gian là không thường hằng’, hoặc ‘Thế gian là có biên giới’, hoặc ‘Thế gian là không có biên giới’, hoặc ‘Sinh mạng và thân thể là một’, hoặc ‘Sinh mạng và thân thể là khác nhau’, hoặc ‘Sau khi chết, Như Lai tồn tại’, hoặc ‘Sau khi chết, Như Lai không tồn tại’, hoặc ‘Sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại’, hoặc ‘Sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại’; tất cả những điều ấy đã được loại trừ, đã được loại bỏ, đã được từ bỏ, đã được khạc nhổ, đã được giải thoát, đã được đoạn tận, đã được xả ly. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu đã loại bỏ các chân lý riêng lẻ.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno kāmesanā pahīnā hoti, bhavesanā pahīnā hoti, brahmacariyesanā paṭippassaddhā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti.
And how has a mendicant totally given up searching? It’s when they’ve given up searching for sensual pleasures, for continued existence, and for a spiritual life. That’s how a mendicant has totally given up searching.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu đã từ bỏ hoàn toàn các sự tìm cầu? Này các Tỳ khưu, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, sự tìm cầu dục lạc đã được đoạn tận, sự tìm cầu hữu đã được đoạn tận, sự tìm cầu phạm hạnh đã được lắng dịu. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu đã từ bỏ hoàn toàn các sự tìm cầu.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu anāvilasaṅkappo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno kāmasaṅkappo pahīno hoti, byāpādasaṅkappo pahīno hoti, vihiṁsāsaṅkappo pahīno hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu anāvilasaṅkappo hoti.
And how does a mendicant have unsullied intentions? It’s when a mendicant has given up intentions of sensuality, malice, and cruelty. That’s how a mendicant has unsullied intentions.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có tư duy không bị vẩn đục? Này các Tỳ khưu, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, tư duy về dục đã được đoạn tận, tư duy về sân đã được đoạn tận, tư duy về hại đã được đoạn tận. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu có tư duy không bị vẩn đục.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti.
And how has a mendicant stilled the physical process? It’s when, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. That’s how a mendicant has stilled the physical process.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có thân hành đã được an tịnh? Này các Tỳ khưu, ở đây, do đoạn trừ lạc và khổ, do sự biến mất của hỷ và ưu đã có từ trước, vị Tỳ khưu chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, có niệm thanh tịnh nhờ xả. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu có thân hành đã được an tịnh.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu suvimuttacitto hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno rāgā cittaṁ vimuttaṁ hoti, dosā cittaṁ vimuttaṁ hoti, mohā cittaṁ vimuttaṁ hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu suvimuttacitto hoti.
And how is a mendicant well freed in mind? It’s when a mendicant’s mind is freed from greed, hate, and delusion. That’s how a mendicant is well freed in mind.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có tâm được giải thoát tốt đẹp? Này các Tỳ khưu, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, tâm đã được giải thoát khỏi tham, tâm đã được giải thoát khỏi sân, tâm đã được giải thoát khỏi si. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu có tâm được giải thoát tốt đẹp.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu suvimuttapañño hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘rāgo me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti, doso me pahīno …pe… ‘moho me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu suvimuttapañño hoti.
And how is a mendicant well freed by wisdom? It’s when a mendicant understands: ‘I’ve given up greed, hate, and delusion, cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so they’re unable to arise in the future.’ That’s how a mendicant’s mind is well freed by wisdom.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có trí tuệ được giải thoát tốt đẹp? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu biết rõ: ‘Tham của ta đã được đoạn tận, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, có tính chất không sanh khởi trong tương lai.’, ‘Sân của ta đã được đoạn tận...’, ‘Si của ta đã được đoạn tận, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, có tính chất không sanh khởi trong tương lai.’ Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu có trí tuệ được giải thoát tốt đẹp.
Ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṁ ariyā ariyāvāse āvasiṁsu, sabbe te imeva dasa ariyāvāse āvasiṁsu; ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ ariyā ariyāvāse āvasissanti, sabbe te imeva dasa ariyāvāse āvasissanti; ye hi keci, bhikkhave, etarahi ariyā ariyāvāse āvasanti, sabbe te imeva dasa ariyāvāse āvasanti. Ime kho, bhikkhave, dasa ariyāvāsā, ye ariyā āvasiṁsu vā āvasanti vā āvasissanti vā”ti.
Dasamaṁ.
Mendicants, whether in the past, future, or present, all noble ones abide in these same ten abodes of the noble ones. These are the ten abodes of the noble ones in which the noble ones of the past, present, and future abide.”
“Này các Tỳ khưu, bất cứ bậc Thánh nào trong quá khứ đã trú trong các trú xứ của bậc Thánh, tất cả các vị ấy đã trú trong mười trú xứ của bậc Thánh này. Này các Tỳ khưu, bất cứ bậc Thánh nào trong tương lai sẽ trú trong các trú xứ của bậc Thánh, tất cả các vị ấy sẽ trú trong mười trú xứ của bậc Thánh này. Này các Tỳ khưu, bất cứ bậc Thánh nào trong hiện tại đang trú trong các trú xứ của bậc Thánh, tất cả các vị ấy đang trú trong mười trú xứ của bậc Thánh này. Này các Tỳ khưu, đây là mười trú xứ của bậc Thánh mà các bậc Thánh đã trú, đang trú, hoặc sẽ trú.” Hết bài kinh thứ mười.
Nāthavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Hết phẩm Nātha thứ hai.
Senāsanañca pañcaṅgaṁ, Saṁyojanākhilena ca; Appamādo āhuneyyo, Dve nāthā dve ariyāvāsāti.
Trú xứ và năm chi phần, kiết sử và chai cứng; Không dể duôi, đáng cúng dường, hai bài kinh Nātha, hai bài kinh trú xứ của bậc Thánh.