- Aṅguttara Nikāya 10.21
- 3. Mahāvagga
Bản dịch
AN 10.21 — Con Sư Tử
Sīhanādasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, vào buổi chiều, từ hang đi ra. Sau khi từ hang đi ra, nó duỗi chân; sau khi duỗi chân, nó nhìn xung quanh bốn phương, sau khi nhìn xung quanh bốn phương, nó rống lên ba lần tiếng rống con sư tử; sau khi rống ba lần tiếng rống con sư tử, nó ra đi tìm mồi. Vì sao? Nó rống với ý nghĩ: “Mong rằng ta không làm tàn hại các loài thú nhỏ đi lạc đường.” Này các Tỷ-kheo, con sư tử là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. “Này các Tỷ-kheo, Như Lai thuyết pháp trong hội chúng, đây chỉ cho tiếng rống con sư tử. Này các Tỷ-kheo, có mười Như Lai lực này của Như Lai, thành tựu những lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử giữa các hội chúng và chuyển Pháp luân. Thế nào là mười?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Như vậy, chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống lên tiếng rống con sư tử trong các hội chúng và chuyển Pháp luân.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại. Này Các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết … (như trên) … và chuyển Pháp luân.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết con đường đưa đến tất cả sanh thú. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết … (như trên) … và chuyển Pháp luân.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết thế giới với nhiều giới, nhiều sai biệt. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết … (như trên) … và chuyển Pháp luân.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết chí hướng sai biệt của các loài chúng sanh. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết … (như trên) … và chuyển Pháp luân.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết những căn thượng hạ của các loại chúng sanh, loài Người. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết … (như trên) … và chuyển Pháp luân.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền chứng về Thiền, về giải thoát, về định. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết … (như trên) … và chuyển Pháp luân.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Như Lai nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Như Lai nhớ đến nhiều đời nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật biết … (như trên) … và chuyển Pháp luân.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Như Lai biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Như Lai biết rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người hạ liệt, kẻ cao sang, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Này Các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết … (như trên) … và chuyển Pháp luân.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt vá an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng và chuyển Pháp luân.
Này các Tỷ-kheo, đây là những Như Lai lực của Như Lai, chính nhờ thành tựu những lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử giữa các hội chúng và chuyển Pháp luân.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.21
- 3. The Great Chapter
The Lion’s Roar
1. Kinh Tiếng Rống Sư Tử
“Sīho, bhikkhave, migarājā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhamati. Āsayā nikkhamitvā vijambhati. Vijambhitvā samantā catuddisaṁ anuviloketi. Samantā catuddisaṁ anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadati. Tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkamati. Taṁ kissa hetu? ‘Māhaṁ khuddake pāṇe visamagate saṅghātaṁ āpādesin’ti.
“Mendicants, toward evening the lion, king of beasts, emerges from his den, yawns, surveys the four quarters, and roars his lion’s roar three times. Then he sets out on the hunt. Why is that? ‘May I not injure any little creatures on unclear ground.’
21. “Này các Tỳ khưu, vào buổi chiều, sư tử, vua của các loài thú, đi ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, nó vươn vai. Sau khi vươn vai, nó nhìn khắp bốn phương. Sau khi nhìn khắp bốn phương, nó rống lên tiếng rống sư tử ba lần. Sau khi rống lên tiếng rống sư tử ba lần, nó đi ra để tìm mồi. Vì lý do gì? ‘Mong rằng ta không gây ra sự tàn sát cho các chúng sanh nhỏ bé đã đi vào những nơi không thích hợp!’
‘Sīho’ti kho, bhikkhave, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa. Yaṁ kho, bhikkhave, tathāgato parisāya dhammaṁ deseti, idamassa hoti sīhanādasmiṁ.
‘Lion’ is a term for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha. When the Realized One teaches Dhamma to an assembly, this is his lion’s roar.
“Này các Tỳ khưu, ‘Sư tử’ chính là danh hiệu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, khi Như Lai thuyết Pháp trong hội chúng, đó chính là tiếng rống sư tử của ngài.
Dasayimāni, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalāni, yehi balehi samannāgato tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti. Katamāni dasa? Idha, bhikkhave, tathāgato ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
The Realized One possesses ten powers of a Realized One. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel. What ten? Firstly, the Realized One truly understands the possible as possible and the impossible as impossible. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. Relying on this he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
“Này các Tỳ khưu, có mười Như Lai lực này của Như Lai, do được trang bị các lực này mà Như Lai tự nhận vị trí tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm thiên. Mười lực ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, Như Lai biết như thật điều có thể là có thể và điều không thể là không thể. Này các Tỳ khưu, việc Như Lai biết như thật điều có thể là có thể và điều không thể là không thể, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nhờ vào lực này mà Như Lai tự nhận vị trí tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm thiên.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands the result of deeds undertaken in the past, future, and present in terms of grounds and causes. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, Như Lai biết như thật về quả dị thục của các hành vi nghiệp đã được thực hiện trong quá khứ, tương lai, và hiện tại, theo vị trí và nguyên nhân của chúng. Này các Tỳ khưu, việc Như Lai biết như thật về quả dị thục của các hành vi nghiệp đã được thực hiện trong quá khứ, tương lai, và hiện tại, theo vị trí và nguyên nhân của chúng, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nhờ vào lực này mà Như Lai tự nhận vị trí tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm thiên.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato sabbatthagāminiṁ paṭipadaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato sabbatthagāminiṁ paṭipadaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands where all paths of practice lead. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, Như Lai như thật tuệ tri con đường đưa đến tất cả các cõi. Này các Tỳ khưu, trí tuệ mà Như Lai nhờ đó như thật tuệ tri con đường đưa đến tất cả các cõi, này các Tỳ khưu, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nhờ thành tựu lực này mà Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato anekadhātuṁ nānādhātuṁ lokaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato anekadhātuṁ nānādhātuṁ lokaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti …pe… brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands the world with its many and diverse elements. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, Như Lai như thật tuệ tri thế gian có nhiều giới và nhiều loại giới khác nhau. Này các Tỳ khưu, trí tuệ mà Như Lai nhờ đó như thật tuệ tri thế gian có nhiều giới và nhiều loại giới khác nhau, này các Tỳ khưu, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai ... và chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato sattānaṁ nānādhimuttikataṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato sattānaṁ nānādhimuttikataṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti …pe… brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands the diverse convictions of sentient beings. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, Như Lai như thật tuệ tri về các khuynh hướng khác nhau của chúng sanh. Này các Tỳ khưu, trí tuệ mà Như Lai nhờ đó như thật tuệ tri về các khuynh hướng khác nhau của chúng sanh, này các Tỳ khưu, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai ... và chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato parasattānaṁ parapuggalānaṁ indriyaparopariyattaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato parasattānaṁ parapuggalānaṁ indriyaparopariyattaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti …pe… brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands the faculties of other sentient beings and other individuals after encompassing them with his mind. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, Như Lai như thật tuệ tri về trình độ các căn cao thấp của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác. Này các Tỳ khưu, trí tuệ mà Như Lai nhờ đó như thật tuệ tri về trình độ các căn cao thấp của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác, này các Tỳ khưu, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai ... và chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ vuṭṭhānaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi …pe… pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti …pe… brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands corruption, cleansing, and emergence regarding the absorptions, liberations, immersions, and attainments. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, Như Lai như thật tuệ tri về sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, các giải thoát, các định, và các chứng đắc. Này các Tỳ khưu, trí tuệ mà Như Lai nhờ đó như thật tuệ tri ..., này các Tỳ khưu, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai ... và chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe, ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti, iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Yampi, bhikkhave, tathāgato anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One recollects many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. He remembers: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ Thus he recollects his many past lives, with features and details. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, Như Lai nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, hưởng thụ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết ở nơi đó, ta được sanh ra ở nơi kia. Tại đó, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, hưởng thụ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết ở nơi đó, ta được sanh ra ở đây.’ Như vậy, Như Lai nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỳ khưu, trí tuệ mà Như Lai nhờ đó nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời ... như vậy, cùng với các nét đại cương và các chi tiết, này các Tỳ khưu, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nhờ thành tựu lực này mà Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, with clairvoyance that is purified and superhuman, the Realized One sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. He understands how sentient beings pass on according to their deeds. ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, he sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. He understands how sentient beings pass on according to their deeds. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Như Lai thấy các chúng sanh chết đi và sanh lại, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh; Như Lai tuệ tri các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Thật vậy, các chúng sanh này thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ các hành vi theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn các chúng sanh này thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ các hành vi theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi lành, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Như Lai thấy các chúng sanh chết đi và sanh lại, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh; Như Lai tuệ tri các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Này các Tỳ khưu, trí tuệ mà Như Lai nhờ đó với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân ... tuệ tri các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ, này các Tỳ khưu, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nhờ thành tựu lực này mà Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Yampi, bhikkhave, tathāgato āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and lives having realized it with his own insight in this very life due to the ending of defilements. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, do đoạn tận các lậu hoặc, Như Lai ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ và đạt đến, an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc. Này các Tỳ khưu, trí tuệ mà Như Lai nhờ đó do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ và đạt đến, an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc, này các Tỳ khưu, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nhờ thành tựu lực này mà Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Imāni kho, bhikkhave, dasa tathāgatassa tathāgatabalāni, yehi balehi samannāgato tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavattetī”ti.
Paṭhamaṁ.
These are the ten powers of a Realized One that the Realized One possesses. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.”
“Này các tỳ khưu, đây là mười Như Lai lực của Như Lai, do thành tựu các lực này mà Như Lai tự nhận địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Phạm hạnh.” Hết bài kinh thứ nhất.