- Aṅguttara Nikāya 10.169
- 17. Jāṇussoṇivagga
Bản dịch
AN 10.169 — Sangàrava
Saṅgāravasutta
TTC 1Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm… ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là bờ bên này, thế nào là bờ bên kia?
TTC 2Này Bà-la-môn, sát sanh là bờ bên này, từ bỏ sát sanh là bờ bên kia. Lấy của không cho, này Bà-la-môn, là bờ bên này, từ bỏ lấy của không cho là bờ bên kia. Tà hạnh trong các dục là bờ bên này, từ bỏ tà hạnh trong các dục là bờ bên kia. Nói láo là bờ bên này, từ bỏ nói láo là bờ bên kia. Nói hai lưỡi là bờ bên này, từ bỏ nói hai lưỡi là bờ bên kia. Nói lời độc ác là bờ bên này, từ bỏ nói lời độc ác là bờ bên kia. Nói phù phiếm là bờ bên này, từ bỏ nói lời phù phiếm là bờ bên kia. Tham là bờ bên này, không tham là bờ bên kia. Sân là bờ bên này, không sân là bờ bên kia. Tà kiến là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia.
Này các Tỷ-kheo, đây là bờ bên này, đây là bờ bên kia.
Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này,
Những ai hành trì pháp,
Theo Chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma giới khó thoát.
Vị từ bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Sống viễn ly khổ lạc,
Hãy cầu vui Niết-bàn,
Bỏ dục không chướng ngại.
Kẻ trí tuệ rửa sạch,
Cấu uế từ nội tâm,
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm,
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc, sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.169
- 17. With Jānussoṇi
With Saṅgārava
3. Kinh Saṅgārava
Atha kho saṅgāravo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho saṅgāravo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
Then Saṅgārava the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
169. Rồi bà-la-môn Saṅgārava đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng với đức Thế Tôn nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời chào mừng và thăm hỏi thân hữu, vị ấy ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, bà-la-môn Saṅgārava bạch với đức Thế Tôn điều này:
“Kiṁ nu kho, bho gotama, orimaṁ tīraṁ, kiṁ pārimaṁ tīran”ti?
“Pāṇātipāto kho, brāhmaṇa, orimaṁ tīraṁ, pāṇātipātā veramaṇī pārimaṁ tīraṁ. Adinnādānaṁ kho, brāhmaṇa, orimaṁ tīraṁ, adinnādānā veramaṇī pārimaṁ tīraṁ. Kāmesumicchācāro orimaṁ tīraṁ, kāmesumicchācārā veramaṇī pārimaṁ tīraṁ. Musāvādo orimaṁ tīraṁ, musāvādā veramaṇī pārimaṁ tīraṁ. Pisuṇā vācā orimaṁ tīraṁ, pisuṇāya vācāya veramaṇī pārimaṁ tīraṁ. Pharusā vācā orimaṁ tīraṁ, pharusāya vācāya veramaṇī pārimaṁ tīraṁ. Samphappalāpo orimaṁ tīraṁ, samphappalāpā veramaṇī pārimaṁ tīraṁ. Abhijjhā orimaṁ tīraṁ, anabhijjhā pārimaṁ tīraṁ. Byāpādo orimaṁ tīraṁ, abyāpādo pārimaṁ tīraṁ. Micchādiṭṭhi orimaṁ tīraṁ, sammādiṭṭhi pārimaṁ tīraṁ. Idaṁ kho, brāhmaṇa, orimaṁ tīraṁ, idaṁ pārimaṁ tīranti.
“Worthy Gotama, what is the near shore? And what is the far shore?”
“Killing living creatures is the near shore, brahmin, and not killing living creatures is the far shore. Stealing is the near shore, and not stealing is the far shore. Sexual misconduct is the near shore, and refraining from sexual misconduct is the far shore. Lying is the near shore, and not lying is the far shore. Divisive speech is the near shore, and refraining from divisive speech is the far shore. Harsh speech is the near shore, and refraining from harsh speech is the far shore. Talking nonsense is the near shore, and refraining from talking nonsense is the far shore. Covetousness is the near shore, and contentment is the far shore. Ill will is the near shore, and good will is the far shore. Wrong view is the near shore, and right view is the far shore. This is the near shore, and this is the far shore.
“Thưa ngài Gotama, thế nào là bờ bên này, thế nào là bờ bên kia?” “Này bà-la-môn, sát sanh là bờ bên này, từ bỏ sát sanh là bờ bên kia. Lấy của không cho là bờ bên này, từ bỏ lấy của không cho là bờ bên kia. Tà hạnh trong các dục là bờ bên này, từ bỏ tà hạnh trong các dục là bờ bên kia. Nói dối là bờ bên này, từ bỏ nói dối là bờ bên kia. Lời nói đâm thọc là bờ bên này, từ bỏ lời nói đâm thọc là bờ bên kia. Lời nói thô lỗ là bờ bên này, từ bỏ lời nói thô lỗ là bờ bên kia. Lời nói phù phiếm là bờ bên này, từ bỏ lời nói phù phiếm là bờ bên kia. Tham ái là bờ bên này, không tham ái là bờ bên kia. Sân hận là bờ bên này, không sân hận là bờ bên kia. Tà kiến là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia. Này bà-la-môn, đây là bờ bên này, đây là bờ bên kia.
Appakā te manussesu, ye janā pāragāmino; Athāyaṁ itarā pajā, tīramevānudhāvati.
Few are those among humans who cross to the far shore. The rest just run around on the near shore.
“Trong loài người, số người đến bờ kia thì ít; Còn quần chúng khác, chỉ chạy dọc bờ này.
Ye ca kho sammadakkhāte, dhamme dhammānuvattino; Te janā pāramessanti, maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
When the teaching is well explained, the people who practice accordingly will cross over Death’s dominion so hard to pass.
“Còn những ai trong Chánh pháp, được khéo giảng dạy, thực hành đúng theo pháp; những người ấy sẽ đến bờ kia, vượt qua cảnh giới của tử thần, rất khó vượt qua.
Kaṇhaṁ dhammaṁ vippahāya, Sukkaṁ bhāvetha paṇḍito; Okā anokamāgamma, Viveke yattha dūramaṁ.
Rid of dark qualities, an astute person would develop the bright. Having left home for homelessness in seclusion, where joy is hard,
“Bậc trí từ bỏ pháp đen, hãy tu tập pháp trắng; từ nhà đến không nhà, trong sự viễn ly khó được ưa thích.
Tatrābhiratimiccheyya, hitvā kāme akiñcano; Pariyodapeyya attānaṁ, cittaklesehi paṇḍito.
they’d long for satisfaction there. Forsaking sensual pleasures, owning nothing, an astute person would cleanse themselves of mental corruptions.
“Ở nơi ấy, hãy mong cầu sự hân hoan, sau khi từ bỏ các dục, không còn sở hữu; bậc trí hãy thanh lọc tự thân khỏi những phiền não của tâm.
Yesaṁ sambodhiyaṅgesu, sammā cittaṁ subhāvitaṁ; Ādānapaṭinissagge, anupādāya ye ratā; Khīṇāsavā jutimanto, te loke parinibbutā”ti.
Tatiyaṁ.
And those whose minds are rightly developed in the awakening factors; who, letting go of attachments, delight in not grasping—with defilements ended, brilliant, they are quenched in this world.”
“Những vị nào có tâm được tu tập chân chánh trong các giác chi; những vị nào không còn chấp thủ, hoan hỷ trong sự từ bỏ các chấp thủ; các vị ấy, lậu hoặc đã tận, chói sáng, đã đạt đến tịch diệt ở thế gian.” (Kinh thứ ba).