- Aṅguttara Nikāya 10.14
- 2. Nāthavagga
Bản dịch
AN 10.14 — Tâm Hoang Vu
Cetokhilasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào năm tâm hoang vu chưa đoạn tận, năm tâm triền phược chưa được cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải là tăng trưởng.
Như thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn tận?
TTC 2Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được đoạn tận.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ hai chưa được đoạn tận.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Tăng, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ ba chưa được đoạn tận.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ các Học pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư chưa được đoạn tận.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng Phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được đoạn tận.
Như vậy là năm tâm hoang vu chưa được đoạn tận.
Thế nào là năm tâm triền phược chưa cắt đứt?
TTC 4Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo, đối với những dục, không phải không tham ái, không phải không luyến ái, không phải không khát ái, không phải không nhiệt não, thời tâm của vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất chưa được cắt đứt.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân, không phải không tham ái, không phải không luyến ái, không phải không khát ái, không phải không nhiệt não, thời tâm của vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ hai chưa được cắt đứt.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp, không phải không tham ái, không phải không luyến ái, không phải không khát ái, không phải không nhiệt não, thời tâm của vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ ba chưa được cắt đứt.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thuê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc ngủ nghỉ, khoái lạc thụy miên, thời tâm của vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ tư chưa được cắt đứt.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống Phạm hạnh với mong cầu được sanh Thiên giới, có ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”, thời tâm của vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ năm chưa được cắt đứt. Như vậy là năm tâm triền phược chưa được cắt đứt.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, năm tâm hoang vu chưa đoạn tận, năm tâm triền phược này chưa cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là sự tổn giảm trong các thiện pháp, không phải là tăng trưởng.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tâm hoang vu đã đoạn tân, năm tâm triền phược đã cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là tổn giảm. Thế nào là năm tâm hoang vu đã được đoạn tận?
TTC 7Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ bậc Ðạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang thứ nhất đã được đoạn tận.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Pháp, … là tâm hoang thứ hai đã được đoạn tận.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Tăng, … là tâm hoang thứ ba đã được đoạn tận.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Học Pháp, … là tâm hoang vu thứ tư đã được đoạn tận.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không phẫn nộ đối với các vị đồng Phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, không cứng rắn, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm đã được đoạn tận. Như vậy là năm tâm hoang vu đã được đoạn tận.
Thế nào là năm tâm triền phược đã được cắt đứt?
TTC 9Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với những dục, không có tham ái, không có luyến ái, không có khát ái, không có nhiệt não, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất đã được cắt đứt.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân, không có tham ái, … như vậy là tâm triền phược thứ hai đã được cắt đứt.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp, không có tham ái, … như vậy là tâm triền phược thứ ba đã được cắt đứt.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không ăn cho đến thỏa thuê, cho đến bụng chứa đầy, không thiên nặng về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc ngủ nghỉ, khoái lạc thụy miên, không có tham ái, … như vậy là tâm triền phược thứ tư đã được cắt đứt.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống Phạm hạnh, không mong cầu được sanh Thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ năm đã được cắt đứt.
Như vậy là năm tâm triền phược đã được cắt đứt.
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, năm tâm hoang vu đã được đoạn tận, năm tâm triền phược này đã được cắt đứt, với vị ấy, đêm hay ngày đến, chờ đợi là sự lớn mạnh trong thiện pháp, không phải tổn giảm. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong độ tăng trưởng về dung sắc, được tăng trưởng về hình tròn, được tăng trưởng về ánh sáng, được tăng trưởng về bề cao, bề rộng của quỷ đạo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, năm tâm hoang vu đã được cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là tổn giảm.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.14
- 2. A Protector
Hard-heartedness
4. Kinh Tâm Hoang Vu
“Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā pañca cetokhilā appahīnā pañca cetasovinibandhā asamucchinnā, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
“Mendicants, a monk or nun who has not given up five kinds of hard-heartedness and has not severed five shackles of the heart can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
14. Này các Tỳ khưu, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào mà năm tâm hoang vu chưa được từ bỏ, năm trói buộc của tâm chưa được cắt đứt, thì đối với vị ấy, khi đêm hay ngày đến, chỉ có thể mong đợi sự suy giảm trong các pháp thiện, chứ không phải sự tăng trưởng.
Katamassa pañca cetokhilā appahīnā honti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ paṭhamo cetokhilo appahīno hoti.
What are the five kinds of hard-heartedness they haven’t given up?
Firstly, a mendicant has doubts about the Teacher. They’re uncertain, undecided, and lacking confidence. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first kind of hard-heartedness they haven’t given up.
Năm sự cằn cỗi của tâm nơi người nào chưa được đoạn trừ? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đối với bậc Đạo Sư có sự hoài nghi, do dự, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với bậc Đạo Sư có sự hoài nghi, do dự, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch, tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Vị nào có tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy đối với vị ấy, sự cằn cỗi của tâm thứ nhất này chưa được đoạn trừ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhamme kaṅkhati …pe… saṅghe kaṅkhati … sikkhāya kaṅkhati … sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ pañcamo cetokhilo appahīno hoti. Imassa pañca cetokhilā appahīnā honti.
Furthermore, a mendicant has doubts about the teaching … the Saṅgha … the training … A mendicant is angry and upset with their spiritual companions, resentful and closed off. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth kind of hard-heartedness they haven’t given up. These are the five kinds of hard-heartedness they haven’t given up.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu hoài nghi về Pháp... (như trên)... hoài nghi về Tăng... hoài nghi về học giới... đối với các vị đồng phạm hạnh thì phẫn nộ, không hoan hỷ, tâm bị tổn thương, tâm trở nên chai cứng. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với các vị đồng phạm hạnh thì phẫn nộ, không hoan hỷ, tâm bị tổn thương, tâm trở nên chai cứng, tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Vị nào có tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy đối với vị ấy, sự cằn cỗi của tâm thứ năm này chưa được đoạn trừ. Nơi vị này, năm sự cằn cỗi của tâm chưa được đoạn trừ.
Katamassa pañca cetasovinibandhā asamucchinnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ paṭhamo cetasovinibandho asamucchinno hoti.
What are the five shackles of the heart they haven’t severed? Firstly, a mendicant isn’t free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first shackle of the heart they haven’t severed.
Năm sự trói buộc của tâm nơi người nào chưa được cắt đứt? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đối với các dục chưa ly tham, chưa lìa dục, chưa lìa ái, chưa lìa khát, chưa lìa nhiệt não, chưa lìa ái. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với các dục chưa ly tham, chưa lìa dục, chưa lìa ái, chưa lìa khát, chưa lìa nhiệt não, chưa lìa ái, tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Vị nào có tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy đối với vị ấy, sự trói buộc của tâm thứ nhất này chưa được cắt đứt.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu kāye avītarāgo hoti …pe… rūpe avītarāgo hoti …pe… yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati … aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ pañcamo cetasovinibandho asamucchinno hoti. Imassa pañca cetasovinibandhā asamucchinnā honti.
Furthermore, a mendicant isn’t free of greed for the body … They’re not free of greed for form … They eat as much as they like until their belly is full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing … They lead the spiritual life wishing to be reborn in one of the orders of gods: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth shackle of the heart they haven’t severed. These are the five shackles of the heart they haven’t severed.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với thân chưa ly tham... (như trên)... đối với sắc chưa ly tham... ăn no bụng theo ý muốn rồi sống chuyên tâm vào lạc thú của việc nằm, lạc thú của việc trở mình, lạc thú của việc ngủ gật... thực hành phạm hạnh với ước nguyện đến một hội chúng chư thiên nào đó rằng: ‘Với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hoặc một vị trời nào đó.’ Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào thực hành phạm hạnh với ước nguyện đến một hội chúng chư thiên nào đó rằng: ‘Với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hoặc một vị trời nào đó,’ tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Vị nào có tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy đối với vị ấy, sự trói buộc của tâm thứ năm này chưa được cắt đứt. Nơi vị này, năm sự trói buộc của tâm chưa được cắt đứt.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā ime pañca cetokhilā appahīnā ime pañca cetasovinibandhā asamucchinnā, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
A monk or nun who has not given up these five kinds of hard-heartedness and has not severed these five shackles of the heart can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
Này các Tỳ khưu, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào mà năm sự cằn cỗi của tâm này chưa được đoạn trừ, năm sự trói buộc của tâm này chưa được cắt đứt, thì đối với vị ấy, mỗi đêm hay ngày trôi qua, chỉ có sự suy giảm trong các thiện pháp là điều được mong đợi, chứ không phải sự tăng trưởng.
Seyyathāpi, bhikkhave, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena hāyati maṇḍalena hāyati ābhāya hāyati ārohapariṇāhena; evamevaṁ kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā ime pañca cetokhilā appahīnā ime pañca cetasovinibandhā asamucchinnā, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
It’s like the moon in the waning fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only decline. In the same way, a monk or nun who has not given up these five kinds of hard-heartedness and has not severed these five shackles of the heart can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
Này các Tỳ khưu, ví như mặt trăng trong kỳ trăng khuyết, mỗi đêm hay ngày trôi qua, nó chỉ suy giảm về màu sắc, suy giảm về hình tròn, suy giảm về ánh sáng, suy giảm về chiều cao và chu vi; cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào mà năm sự cằn cỗi của tâm này chưa được đoạn trừ, năm sự trói buộc của tâm này chưa được cắt đứt, thì đối với vị ấy, mỗi đêm hay ngày trôi qua, chỉ có sự suy giảm trong các thiện pháp là điều được mong đợi, chứ không phải sự tăng trưởng.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā pañca cetokhilā pahīnā pañca cetasovinibandhā susamucchinnā, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
A monk or nun who has given up five kinds of hard-heartedness and has severed five shackles of the heart can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.
Này các Tỳ khưu, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào mà năm sự cằn cỗi của tâm đã được đoạn trừ, năm sự trói buộc của tâm đã được cắt đứt hoàn toàn, thì đối với vị ấy, mỗi đêm hay ngày trôi qua, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp là điều được mong đợi, chứ không phải sự suy giảm.
Katamassa pañca cetokhilā pahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu satthari na kaṅkhati na vicikicchati, adhimuccati sampasīdati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu satthari na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati, tassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ paṭhamo cetokhilo pahīno hoti.
What are the five kinds of hard-heartedness they’ve given up? Firstly, a mendicant has no doubts about the Teacher. They’re not uncertain, undecided, or lacking confidence. This being so, their mind inclines toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first kind of hard-heartedness they’ve given up.
Năm sự cằn cỗi của tâm nơi người nào đã được đoạn trừ? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đối với bậc Đạo Sư không hoài nghi, không do dự, có sự quyết đoán, có niềm tin trong sạch. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với bậc Đạo Sư không hoài nghi, không do dự, có sự quyết đoán, có niềm tin trong sạch, tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Vị nào có tâm hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy đối với vị ấy, sự cằn cỗi của tâm thứ nhất này đã được đoạn trừ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhamme na kaṅkhati …pe… saṅghe na kaṅkhati … sikkhāya na kaṅkhati … sabrahmacārīsu na kupito hoti attamano na āhatacitto na khilajāto. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu na kupito hoti attamano na āhatacitto na khilajāto, tassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ pañcamo cetokhilo pahīno hoti. Imassa pañca cetokhilā pahīnā honti.
Furthermore, a mendicant has no doubts about the teaching … the Saṅgha … the training … A mendicant is not angry and upset with their spiritual companions, not resentful or closed off. This being so, their mind inclines toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth kind of hard-heartedness they’ve given up. These are the five kinds of hard-heartedness they’ve given up.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu không hoài nghi về Pháp... (như trên)... không hoài nghi về Tăng... không hoài nghi về học giới... đối với các vị đồng phạm hạnh không phẫn nộ, có tâm hoan hỷ, không có tâm bị tổn thương, không có tâm chai cứng. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với các vị đồng phạm hạnh không phẫn nộ, có tâm hoan hỷ, không có tâm bị tổn thương, không có tâm chai cứng, tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Vị nào có tâm hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy đối với vị ấy, sự cằn cỗi của tâm thứ năm này đã được đoạn trừ. Nơi vị này, năm sự cằn cỗi của tâm đã được đoạn trừ.
Katamassa pañca cetasovinibandhā susamucchinnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāmesu vītarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kāmesu vītarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho, tassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ paṭhamo cetasovinibandho susamucchinno hoti.
What are the five shackles of the heart they’ve severed? Firstly, a mendicant is rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. This being so, their mind inclines toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first shackle of the heart they’ve severed.
Năm sự trói buộc của tâm nào đã được vị ấy đoạn trừ hoàn toàn? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đối với các dục đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly nhiệt não, đã ly ái. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với các dục đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly nhiệt não, đã ly ái, tâm của vị ấy hướng về sự tinh cần, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực. Vị nào có tâm hướng về sự tinh cần, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực, như vậy sự trói buộc của tâm thứ nhất này đã được vị ấy đoạn trừ hoàn toàn.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu kāye vītarāgo hoti …pe… rūpe vītarāgo hoti …pe… na yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati, na aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu na aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya …pe… devaññataro vāti, tassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ pañcamo cetasovinibandho susamucchinno hoti. Imassa pañca cetasovinibandhā susamucchinnā honti.
Furthermore, a mendicant is rid of greed for the body … They’re rid of greed for form … They don’t eat as much as they like until their belly is full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing … They don’t lead the spiritual life wishing to be reborn in one of the orders of gods: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This being so, their mind inclines toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth shackle of the heart they’ve severed. These are the five shackles of the heart they’ve severed.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với thân đã ly tham ... đối với sắc đã ly tham ... không phải sau khi ăn no bụng thỏa thích rồi sống chuyên tâm vào lạc thú của việc nằm, lạc thú của việc xoay trở, lạc thú của việc ngủ nghỉ; không phải thực hành phạm hạnh với sự mong cầu được sanh vào một hội chúng chư thiên nào đó rằng: ‘Do giới này, hay hạnh này, hay khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một trong các vị trời.’ Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào không thực hành phạm hạnh với sự mong cầu được sanh vào một hội chúng chư thiên nào đó ... một trong các vị trời,’ tâm của vị ấy hướng về sự tinh cần, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực. Vị nào có tâm hướng về sự tinh cần, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực, như vậy sự trói buộc của tâm thứ năm này đã được vị ấy đoạn trừ hoàn toàn. Năm sự trói buộc của tâm này đã được vị ấy đoạn trừ hoàn toàn.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā ime pañca cetokhilā pahīnā ime pañca cetasovinibandhā susamucchinnā, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
A monk or nun who has given up these five kinds of hard-heartedness and has severed these five shackles of the heart can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.
Này các Tỳ khưu, đối với bất cứ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào mà năm sự hoang vu của tâm này đã được đoạn tận, năm sự trói buộc của tâm này đã được đoạn trừ hoàn toàn, thì mỗi khi đêm hay ngày đến, vị ấy chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng trong các thiện pháp, chứ không phải sự suy giảm.
Seyyathāpi, bhikkhave, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena vaḍḍhati maṇḍalena vaḍḍhati ābhāya vaḍḍhati ārohapariṇāhena; evamevaṁ kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā ime pañca cetokhilā pahīnā ime pañca cetasovinibandhā susamucchinnā, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihānī”ti.
Catutthaṁ.
It’s like the moon in the waxing fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only grow. In the same way, a monk or nun who has given up these five kinds of hard-heartedness and has severed these five shackles of the heart can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.”
Ví như, này các Tỳ khưu, trong thượng tuần của tháng, mỗi khi đêm hay ngày đến, mặt trăng chỉ tăng trưởng về màu sắc, tăng trưởng về hình tròn, tăng trưởng về ánh sáng, tăng trưởng về chiều cao và chu vi; cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với bất cứ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào mà năm sự hoang vu của tâm này đã được đoạn tận, năm sự trói buộc của tâm này đã được đoạn trừ hoàn toàn, thì mỗi khi đêm hay ngày đến, vị ấy chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng trong các thiện pháp, chứ không phải sự suy giảm. Hết bài kinh thứ tư.