Bản dịch
VV 76 — Thiên Cung Nandana
2. Nandanavimānavatthu
BJT 1121“Khu vườn Nandana và Cittalatā, vườn hoa hạng nhất, tối thượng ở cõi Ba Mươi (Ba) chiếu sáng như thế nào, thì Thiên cung này của ngươi ngự ở không trung, đang chói sáng tương tự như thế ấy.
BJT 1122Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1123Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1124“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã là người làm công nghèo khó, khốn khổ, không nơi nhờ cậy, và tôi đã phụng dưỡng mẹ cha già nua. Và các bậc có giới hạnh đã được tôi quý mến; có tâm tịnh tín, tôi đã trân trọng dâng cúng vật thí dồi dào về cơm ăn và nước uống.
BJT 1125Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1126Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Nandana.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūto, daliddo atāṇo kapaṇo kammakaro ahosiṃ;
Jiṇṇe ca mātāpitaro abhāriṃ †, piyā ca me sīlavanto ahesuṃ;
Annañca pānañca pasannacitto, sakkacca dānaṃ vipulaṃ adāsi.
“When I was a human being among humans, I was poor, without refuge, wretched, and a laborer. I supported my aged parents, and the virtuous were dear to me. With a confident mind, I respectfully gave abundant food, drink, and alms.”
“Khi còn là con người ở giữa nhân loại, tôi đã là người nghèo khổ, không nơi nương tựa, khốn cùng, là một người làm công. Và tôi đã nuôi dưỡng cha mẹ già yếu, và những người có giới đức là những người thân yêu của tôi. Với tâm ý tín thành, tôi đã cúng dường vật thực và thức uống, và sự bố thí rộng lớn một cách kính cẩn.”
1118.
1118.
1118.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe… vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“Because of that, my complexion is like this… and my complexion illuminates all directions.”
“Do nhân ấy, dung sắc của tôi được như vậy ... (như trên) ... và dung sắc của tôi chiếu sáng khắp mọi phương.”
Cittalatāvimānaṃ paṭhamaṃ.
The Cittalatā Mansion, the first.
Thiên cung Cittalatā là (câu chuyện) thứ nhất.
2. Nandanavimānavatthu
2. The Story of the Nandana Mansion
2. Câu chuyện về Thiên cung Nandana
1120.
1120.
1120.
‘‘Yathā vanaṃ nandanaṃ † pabhāsati, uyyānaseṭṭhaṃ tidasānamuttamaṃ;
Tathūpamaṃ tuyhamidaṃ vimānaṃ, obhāsayaṃ tiṭṭhati antalikkhe.
“Just as the Nandana grove shines, the most excellent garden, supreme among the Tāvatiṃsa devas, so too, similar to that, your mansion stands illuminating in the sky.
“Ví như khu rừng Nandana, khu vườn thượng hạng, tối thắng của chư vị Tam Thập Thiên, đang tỏa sáng; tương tự như thế, thiên cung này của ngài đang đứng ở giữa hư không và đang chiếu sáng.”
1121.
1121.
1121.
‘‘Deviddhipattosi mahānubhāvo, manussabhūto kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvo, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“You have attained divine power and are of great majesty. When you were a human being, what merit did you make? By what are you of such radiant majesty, and by what does your complexion illuminate all directions?”
“Ngài đã đạt được thần lực của chư thiên, có đại oai lực. Khi còn là con người, ngài đã làm phước thiện gì? Do đâu ngài có được oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngài chiếu sáng khắp mọi phương?”
1122.
1122.
1122.
So devaputto attamano…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devaputta, with a delighted mind, being asked by the Venerable Moggallāna... explained the deed of which this is the fruit.
Vị thiên tử ấy, tâm trí hoan hỷ ... (như trên) ... đây là quả của nghiệp nào.
1123.
1123.
1123.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūto, daliddo atāṇo kapaṇo kammakaro ahosiṃ;
Jiṇṇe ca mātāpitaro abhāriṃ, piyā ca me sīlavanto ahesuṃ;
Annañca pānañca pasannacitto, sakkacca dānaṃ vipulaṃ adāsiṃ.
“When I was a human being among humans, I was poor, without refuge, wretched, and a laborer. I supported my aged parents, and the virtuous were dear to me. With a confident mind, I respectfully gave them abundant food, drink, and alms.”
“Khi còn là con người ở giữa nhân loại, tôi đã là người nghèo khổ, không nơi nương tựa, khốn cùng, là một người làm công. Và tôi đã nuôi dưỡng cha mẹ già yếu, và những người có giới đức là những người thân yêu của tôi. Với tâm ý tín thành, tôi đã cúng dường vật thực và thức uống, và sự bố thí rộng lớn một cách kính cẩn.”
1124.
1124.
1124.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe… vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“Because of that, my complexion is like this… and my complexion illuminates all directions.”
“Do nhân ấy, dung sắc của tôi được như vậy ... (như trên) ... và dung sắc của tôi chiếu sáng khắp mọi phương.”
Nandanavimānaṃ dutiyaṃ.
The Nandana Mansion, the second.
Thiên cung Nandana là (câu chuyện) thứ nhì.