Bản dịch
VV 29 — Thiên Cung Cao Sang
1. Uḷāravimānavatthu
BJT 283“Danh tiếng và màu da cao sang của nàng chói sáng khắp các phương. Các nữ nhân và các Thiên tử, đã được trang điểm, nhảy múa ca hát.
BJT 284Hỡi nàng tiên, do tôn vinh nàng mà họ làm cho nàng được vui và tháp tùng nàng. Hỡi cô nàng có dáng vóc xinh xắn, những Thiên cung bằng vàng này là thuộc về nàng.
BJT 285Nàng là nữ chủ nhân của chúng, nàng có được sự thành tựu tất cả các dục lạc, nàng đã được sanh ra tốt đẹp, nàng là vĩ đại, nàng vui thích ở tập thể chư Thiên. Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?
BJT 286Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 287Hỡi nàng tiên có đại oai lực, tôi hỏi nàng, ở thế giới loài người nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 288Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 289“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, trong kiếp sống trước đây ở thế giới loài người, tôi đã là con dâu ở gia đình có giới hạnh xấu xa. Tôi ở giữa những người không có đức tin, bỏn xẻn.
BJT 290Được đầy đủ đức tin và giới hạnh, luôn luôn thích thú việc san sẻ, tôi đã dâng chiếc bánh bột chiên đến vị đang đi khất thực.
BJT 291Rồi tôi đã thuật lại với mẹ chồng rằng: ‘Có vị Sa-môn đã đi đến đây. Được tịnh tín, con đã tự tay dâng chiếc bánh bột đến vị ấy.’
BJT 292Như thế, người mẹ chồng đã mắng chửi rằng: ‘Cô là con dâu không được dạy dỗ. Cô đã không muốn xin phép tôi là: Con muốn dâng đến vị Sa-môn.’
BJT 293Do đó, bị nổi giận, mẹ chồng của tôi đã đánh tôi bằng cái chày. Bà đã làm gãy xương bả vai, đã làm tôi bị thương; tôi đã không thể sống lâu.
BJT 294Tôi đây, do sự tan rã của thân xác, đã chết từ nơi ấy, đã được giải thoát; tôi đã được sanh lên cộng trú với chư Thiên cõi Ba Mươi Ba.
BJT 295Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 296Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Cao Sang.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Pāricchattakavaggo
3. The Pāricchattaka Chapter
3. Phẩm Pāricchattaka
1. Uḷāravimānavatthu
1. The Story of the Magnificent Mansion
1. Câu chuyện về Thiên cung Huy hoàng
286.
286.
286.
‘‘Uḷāro te yaso vaṇṇo, sabbā obhāsate disā;
Nāriyo naccanti gāyanti, devaputtā alaṅkatā.
Magnificent is your retinue and vast is your complexion, which illuminates all directions. Adorned female and male deities dance and sing.
“Danh tiếng và dung sắc của nàng thật huy hoàng, tỏa sáng khắp mọi phương trời. Các thiên nữ và thiên tử được trang hoàng đang múa hát.”
287.
287.
287.
‘‘Modenti parivārenti, tava pūjāya devate;
Sovaṇṇāni vimānāni, tavimāni sudassane.
They rejoice and attend upon you, to do you honor, O devatā. These mansions of yours are golden, O beautiful one.
“Hỡi thiên nữ, họ hoan hỷ và vây quanh để cúng dường nàng. Hỡi người đẹp, những thiên cung này của nàng đều bằng vàng.”
288.
288.
288.
‘‘Tuvaṃsi issarā tesaṃ, sabbakāmasamiddhinī;
Abhijātā mahantāsi, devakāye pamodasi;
Devate pucchitācikkha, kissa kammassidaṃ phala’’nti.
You are their sovereign, endowed with all desired things; of noble birth and great power, you rejoice in the realm of the devas. O devatā, being asked, tell me: of what kamma is this the fruit?
“Nàng là chủ của họ, được thành tựu mọi dục lạc. Nàng có sanh cao quý, có đại oai lực, và hoan hỷ trong cõi trời. Hỡi thiên nữ, xin hãy cho biết khi được hỏi, đây là quả của nghiệp gì?”
289.
289.
289.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūtā, purimāya jātiyā manussaloke;
Dussīlakule suṇisā ahosiṃ, assaddhesu kadariyesu ahaṃ.
Among humans, I was a human, in a former birth in the human world; I was a daughter-in-law in an immoral family, among the faithless and the miserly.
“Trong kiếp trước, ở cõi người, khi con là một con người, con đã làm dâu trong một gia đình không có giới hạnh, giữa những người không có đức tin và keo kiệt.”
290.
290.
290.
‘‘Saddhā sīlena sampannā, saṃvibhāgaratā sadā;
Piṇḍāya caramānassa, apūvaṃ te adāsahaṃ.
Endowed with faith and virtue, ever delighting in sharing, I gave a cake to you as you were wandering for alms-food.
“Con đã thành tựu đức tin và giới hạnh, luôn hoan hỷ trong sự chia sẻ. Con đã dâng cúng một chiếc bánh đến ngài khi ngài đang đi khất thực.”
291.
291.
291.
‘‘Tadāhaṃ sassuyācikkhiṃ, samaṇo āgato idha;
Tassa adāsahaṃ pūvaṃ, pasannā sehi pāṇibhi.
Then I told my mother-in-law: 'A recluse has come here. With a devoted mind, I gave him the cake with my own hands.'
“Khi ấy, con đã thưa với mẹ chồng: ‘Có một vị sa-môn đã đến đây. Với tâm tịnh tín, con đã tự tay dâng cúng một chiếc bánh đến vị ấy.’”
292.
292.
292.
‘‘Itissā sassu paribhāsi, avinītāsi tvaṃ † vadhu;
Na maṃ sampucchituṃ icchi, samaṇassa dadāmahaṃ.
At this, my mother-in-law reviled me: 'You are an undisciplined daughter-in-law! You did not wish to ask my permission before giving to the recluse.'
“Nghe vậy, mẹ chồng đã mắng nhiếc con: ‘Này con dâu, ngươi thật vô giáo dục. Ngươi đã không muốn hỏi ta trước khi nói: “Con sẽ cúng dường cho vị sa-môn”.’”
293.
293.
293.
‘‘Tato me sassu kupitā, pahāsi musalena maṃ;
Kūṭaṅgacchi avadhi maṃ, nāsakkhiṃ jīvituṃ ciraṃ.
Then my mother-in-law, being enraged, struck me with a pestle. She broke my shoulder and killed me; I was not able to live for long.
“Sau đó, mẹ chồng con nổi giận, đã dùng chày đánh con. Bà đã đánh gãy vai và giết chết con. Con đã không thể sống được lâu.”
294.
294.
294.
‘‘Sā ahaṃ kāyassa bhedā, vippamuttā tato cutā;
Devānaṃ tāvatiṃsānaṃ, upapannā sahabyataṃ.
I, at the breaking up of the body, freed from that suffering, passed away and was reborn into the companionship of the Tāvatiṃsa devas.
“Sau khi thân hoại, con đã thoát khỏi cảnh khổ đó, và khi mạng chung, con đã được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba.”
295.
295.
295.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe…vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
Because of that kamma, my complexion is like this… and my complexion illuminates all directions.
“Do nhân ấy mà dung sắc của con được như vậy... và do nhân ấy mà dung sắc của con tỏa sáng khắp mọi phương trời.”
Uḷāravimānaṃ paṭhamaṃ.
The First Story: The Magnificent Mansion.
Thiên cung Huy hoàng, (phẩm) thứ nhất.