- Udāna 8.6
Pāṭaligāmiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Pāṭaligāmiyasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn, trong khi đi du hành ở xứ sở của những người Magadha cùng với đại chúng tỳ khưu, đã ngự đến ngôi làng Pāṭali. Các cư sĩ người làng Pāṭali đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn trong khi đi du hành ở xứ sở của những người Magadha cùng với đại chúng tỳ khưu, đã đi đến ngôi làng Pāṭali.” Sau đó, các cư sĩ người làng Pāṭali đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các cư sĩ người làng Pāṭali đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời về ngôi nhà nghỉ trọ.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
2. Khi ấy, các cư sĩ người làng Pāṭali hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi đi đến ngôi nhà nghỉ trọ, sau khi đến đã trải thảm toàn bộ nhà nghỉ trọ với thảm trải, cho sắp đặt các chỗ ngồi, cho bố trí lu nước, cho treo lên cây đèn dầu, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, các cư sĩ người làng Pāṭali đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, nhà nghỉ trọ đã trải thảm toàn bộ với thảm trải, các chỗ ngồi đã được cho sắp đặt, lu nước đã được cho bố trí, cây đèn dầu đã được treo lên. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy biết giờ này là thời điểm của việc nào.”
3. Sau đó, đức Thế Tôn đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y cùng với đại chúng tỳ khưu đi đến nhà nghỉ trọ, sau khi đến đã rửa sạch hai bàn chân rồi đi vào nhà nghỉ trọ và ngồi xuống chỗ cột nhà ở chính giữa, mặt nhìn về hướng đông. Hội chúng tỳ khưu cũng đã rửa sạch các bàn chân, rồi đi vào nhà nghỉ trọ và ngồi xuống chỗ bức tường ở phía tây, mặt nhìn về hướng đông, và có đức Thế Tôn trong tầm nhìn. Các cư sĩ người làng Pāṭali cũng đã rửa sạch các bàn chân, rồi đi vào nhà nghỉ trọ và ngồi xuống chỗ bức tường ở phía đông, mặt nhìn về hướng tây, và có đức Thế Tôn trong tầm nhìn.
4. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các cư sĩ người làng Pāṭali rằng: “Này các cư sĩ, đây là năm điều tai hại của kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới. Năm điều nào?
Này các cư sĩ, ở đây kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới gánh chịu sự mất mát lớn về tài sản do nguyên nhân xao lãng. Đây là điều tai hại thứ nhất của kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới.
Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là tiếng đồn xấu xa của kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới lan rộng. Đây là điều tai hại thứ nhì của kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới.
Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới đi vào tập thể nào khác dầu là tập thể những người Sát-đế-lỵ, dầu là tập thể những người Bà-la-môn, dầu là tập thể các gia chủ, dầu là tập thể các Sa-môn, kẻ ấy đi vào thiếu sự tự chủ và trở nên bối rối. Đây là điều tai hại thứ ba của kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới.
Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới bị mê muội khi từ trần. Đây là điều tai hại thứ tư của kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới.
Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới khi thân này bị tan rã, sau khi chết đi sẽ tái sanh vào đọa xứ, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Đây là điều tai hại thứ năm của kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới.
Này các cư sĩ, đây là năm điều tai hại của kẻ không giữ giới có sự hư hỏng về giới.
5. Này các cư sĩ, đây là năm điều lợi ích của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Năm điều nào?
Này các cư sĩ, người giữ giới có sự thành tựu về giới thành tựu khối lượng tài sản lớn do nguyên nhân không xao lãng. Đây là điều lợi ích thứ nhất của người giữ giới có sự thành tựu về giới.
Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là tiếng đồn tốt đẹp của người giữ giới có sự thành tựu về giới lan rộng. Đây là điều lợi ích thứ nhì của người giữ giới có sự thành tựu về giới.
Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là người giữ giới có sự thành tựu về giới đi vào tập thể nào khác dầu là tập thể những người Sát-đế-lỵ, dầu là tập thể những người Bà-la-môn, dầu là tập thể các gia chủ, dầu là tập thể các Sa-môn, người ấy đi vào có sự tự chủ và không có bối rối. Đây là điều lợi ích thứ ba của người giữ giới có sự thành tựu về giới.
Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là người giữ giới có sự thành tựu về giới không bị mê muội khi từ trần. Đây là điều lợi ích thứ tư của người giữ giới có sự thành tựu về giới.
Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là người giữ giới có sự thành tựu về giới khi thân này bị tan rã, sau khi chết đi sẽ tái sanh vào chốn an vui, cõi Trời, cõi người. Đây là điều lợi ích thứ năm của người giữ giới có sự thành tựu về giới.
Này các cư sĩ, đây là năm điều lợi ích của người giữ giới có sự thành tựu về giới.”
6. Sau đó, khi đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các cư sĩ người làng Pāṭali bằng bài Pháp thoại đến tận đêm khuya, đức Thế Tôn đã giải tán (bảo rằng): “Này các cư sĩ, đêm đã khuya. Các ngươi hãy biết giờ này là thời điểm của việc nào” Khi ấy, các cư sĩ người làng Pāṭali đã thích thú, đã tùy hỷ lời dạy của đức Thế Tôn, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi.
Sau đó, khi các cư sĩ người làng Pāṭali ra đi không lâu, đức Thế Tôn đã đi vào ngôi nhà trống vắng.
7. Vào lúc bấy giờ, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, cho xây thành ở làng Pāṭali để ngăn cản các người Vajji. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị Trời đến hàng ngàn vị chiếm giữ các khu vực ở làng Pāṭali. Các vị Trời có oai lực lớn chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các vị vua và của các quan đại thần của vua có oai lực lớn ở nơi đó cho xây các dinh thự. Các vị Trời có oai lực trung bình chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các vị vua và của các quan đại thần của vua có oai lực trung bình ở nơi đó cho xây các dinh thự. Các vị Trời có oai lực kém chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các vị vua và của các quan đại thần của vua có oai lực kém ở nơi đó cho xây các dinh thự. Và đức Thế Tôn bằng Thiên nhãn thanh tịnh vượt xa loài người đã nhìn thấy các vị Trời ấy đến hàng ngàn vị đang chiếm giữ các khu vực ở làng Pāṭali. Các vị Trời có oai lực lớn chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các vị vua và của các quan đại thần của vua có oai lực lớn ở nơi đó cho xây các dinh thự. Các vị Trời có oai lực trung bình chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các vị vua và của các quan đại thần của vua có oai lực trung bình ở nơi đó cho xây các dinh thự. Các vị Trời có oai lực kém chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các vị vua và của các quan đại thần của vua có oai lực kém ở nơi đó cho xây các dinh thự.”
8. Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm ấy đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, ai là người cho xây thành ở làng Pāṭali vậy?”
“Bạch Ngài, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, cho xây thành ở làng Pāṭali để ngăn cản các người Vajji.”
“Này Ānanda, cũng giống như là đã thỉnh ý với chư Thiên ở cõi Trời Ba Mươi Ba, này Ānanda, tương tự y như thế Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã cho xây thành ở làng Pāṭali để ngăn cản các người Vajji.
9. Này Ānanda, ở đây sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng, bằng Thiên nhãn thanh tịnh vượt trên loài người Ta đã nhìn thấy nhiều vị Trời đang chiếm giữ các khu vực ở trong làng Pāṭali. Các vị Trời có oai lực lớn chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các vị vua và của các quan đại thần của vua có oai lực lớn ở nơi đó cho xây các dinh thự. Các vị Trời có oai lực trung bình chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các vị vua và của các quan đại thần của vua có oai lực trung bình ở nơi đó cho xây các dinh thự. Các vị Trời có oai lực kém chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các vị vua và của các quan đại thần của vua có oai lực kém ở nơi đó cho xây các dinh thự.
10. Này Ānanda, cho đến tận lãnh thổ của những người Ariyan và đến tận con đường của những nhà thương buôn, nơi này sẽ trở thành thành phố hàng đầu Pāṭaliputta, nơi trao đổi các loại hàng hóa. Này Ānanda, thành Pāṭaliputta sẽ xảy ra ba tai họa hoặc do lửa, hoặc do nước, hoặc do sự chia rẽ mối liên kết.”
11. Sau đó, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã nói với đức Thế Tôn điều này: - “Xin Ngài Gotama hãy nhận lời chúng tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
12. Khi ấy, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, sau khi hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn, đã đi đến chỗ trú ngụ của mình, sau khi đến đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm tại chỗ trú ngụ của mình, rồi đã cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn rằng: “Bạch Ngài Gotama, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y cùng với hội chúng tỳ khưu đi đến chỗ trú ngụ của Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt. Khi ấy, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm.
13. Sau đó, khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần đã cầm lấy chiếc ghế thấp khác, rồi đã ngồi xuống ở một bên. Khi Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã ngồi xuống ở một bên, Đức Thế Tôn đã nói lời tùy hỷ đến họ bằng những lời kệ này:
“Ở tại khu vực nào, chỗ trú ngụ được sắp đặt cho các bậc có bản chất sáng suốt, tại nơi ấy nên dâng thức ăn đến các vị có giới, đã tự chế ngự, có Phạm hạnh.
Nên tỏ sự kính trọng đến chư Thiên đã ngụ ở nơi ấy. Chư Thiên ấy, được cúng dường, sẽ cúng dường người ấy, được tôn kính, sẽ tôn kính người ấy.
Do đó, chư Thiên thương mến người ấy, như người mẹ thương xót đứa con trai ruột thịt. Được chư Thiên thương mến, người ấy sẽ luôn luôn gặp được các điều tốt lành.”
14. Sau đó, khi đã nói lời tùy hỷ đến Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, bằng những lời kệ này, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Vào lúc bấy giờ, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã đi theo phía sau đức Thế Tôn (nghĩ rằng): “Hôm nay, Sa-môn Gotama đi ra bằng cửa thành nào thì cửa thành ấy sẽ có tên là Cửa thành Gotama, và băng qua sông Gaṅgā bằng bến tàu nào thì bến tàu ấy sẽ có tên là Bến tàu Gotama.”
15. Sau đó, đức Thế Tôn đã đi ra bằng cửa thành nào thì cửa thành ấy đã có tên là Cửa thành Gotama. Rồi đức Thế Tôn đã đi đến sông Gaṅgā. Vào lúc bấy giờ, sông Gaṅgā là tràn đầy, mấp mé bờ khiến chim quạ có thể uống nước. Dân chúng, một số đi kiếm thuyền, một số đi kiếm xuồng, một số buộc thành chiếc bè với ước muốn đi từ bờ này sang bờ kia. Khi ấy, cũng giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tự như thế đức Thế Tôn đã biến mất tại bờ bên này của sông Gaṅgā và hiện ra đứng ở bờ bên kia cùng với hội chúng tỳ khưu. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy những người ấy, một số đang đi kiếm thuyền, một số đang đi kiếm xuồng, một số đang buộc thành chiếc bè với ước muốn đi từ bờ này sang bờ kia.
16. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Những người băng qua biển hồ sông suối, sau khi xây dựng cây cầu, sau khi vượt qua các hồ nhỏ. (Trong khi) người còn đang buộc chiếc bè nhỏ thì các bậc thông minh đã vượt qua (bờ kia).”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Pāṭaligāmiya (Về Dân Làng Pāṭali)
76. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn đang du hành ở xứ Magadha cùng với đại chúng Tỳ khưu, và đã đến làng Pāṭali. Các cận sự nam ở làng Pāṭali nghe tin: ‘Nghe nói đức Thế Tôn đang du hành ở xứ Magadha cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đến làng Pāṭali.’ Bấy giờ, các cận sự nam ở làng Pāṭali đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các cận sự nam ở làng Pāṭali bạch với đức Thế Tôn lời này: – Bạch Thế Tôn, xin đức Thế Tôn nhận lời mời đến nhà nghỉ của chúng con. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng.
Atha kho pāṭaligāmiyā upāsakā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yenāvasathāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ āvasathāgāraṁ santharitvā āsanāni paññāpetvā udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpetvā telappadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho pāṭaligāmiyā upāsakā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “sabbasantharisanthataṁ, bhante, āvasathāgāraṁ; āsanāni paññattāni; udakamaṇiko patiṭṭhāpito telappadīpo āropito. Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Then, knowing that the Buddha had consented, the lay followers of Pāṭali Village rose from their seats, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right. Then they went to the guest house, where they spread carpets all over, prepared seats, set up a water jar, and placed an oil lamp. Then they went back to the Buddha, bowed, stood to one side, and told him of their preparations, saying: “Please, sir, come at your convenience.”
Bấy giờ, các cận sự nam ở làng Pāṭali, sau khi biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh ngài rồi đi đến nhà nghỉ. Sau khi đến, họ trải khắp nhà nghỉ, chuẩn bị chỗ ngồi, đặt sẵn bình nước, và thắp đèn dầu. Rồi họ đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, các cận sự nam ở làng Pāṭali bạch với đức Thế Tôn lời này: – Bạch Thế Tôn, nhà nghỉ đã được trải khắp, chỗ ngồi đã được chuẩn bị, bình nước đã được đặt sẵn, đèn dầu đã được thắp lên. Bạch Thế Tôn, bây giờ là thời điểm mà đức Thế Tôn xem là thích hợp.
Atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena āvasathāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi. Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi bhagavantaṁyeva purakkhatvā. Pāṭaligāmiyāpi kho upāsakā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu bhagavantaṁyeva purakkhatvā. Atha kho bhagavā pāṭaligāmiye upāsake āmantesi:
In the morning, the Buddha robed up and, taking his bowl and robe, went to the guest house together with the Saṅgha of mendicants. Having washed his feet, he entered the guest house and sat against the central column facing east. The Saṅgha of mendicants also washed their feet, entered the guest house, and sat against the west wall facing east, with the Buddha right in front of them. The lay followers of Pāṭali Village also washed their feet, entered the guest house, and sat against the east wall facing west, with the Buddha right in front of them. Then the Buddha addressed them:
Bấy giờ, Thế Tôn đắp y, mang y bát, cùng với chúng Tỳ khưu đi đến nhà nghỉ. Sau khi đến, ngài rửa chân, đi vào nhà nghỉ, rồi ngồi xuống hướng về phương đông, dựa vào cây cột ở giữa. Chúng Tỳ khưu cũng rửa chân, đi vào nhà nghỉ, rồi ngồi xuống hướng về phương đông, dựa vào bức tường phía tây, với Thế Tôn ở phía trước. Các cận sự nam ở làng Pāṭali cũng rửa chân, đi vào nhà nghỉ, rồi ngồi xuống hướng về phương tây, dựa vào bức tường phía đông, với Thế Tôn ở phía trước. Bấy giờ, Thế Tôn gọi các cận sự nam ở làng Pāṭali:
“Pañcime, gahapatayo, ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā. Katame pañca? Idha, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno pamādādhikaraṇaṁ mahatiṁ bhogajāniṁ nigacchati. Ayaṁ paṭhamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
“Householders, there are these five drawbacks for an unethical person because of their failure in ethics. What five? Firstly, an unethical person loses great wealth on account of negligence. This is the first drawback.
“Này các gia chủ, có năm điều nguy hại này cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Thế nào là năm? Này các gia chủ, ở đây, người ác giới, giới bị hư hoại, do nhân phóng dật, phải chịu tổn thất lớn về tài sản. Đây là điều nguy hại thứ nhất cho người ác giới, do giới bị hư hoại.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlassa sīlavipannassa pāpako kittisaddo abbhuggacchati. Ayaṁ dutiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Furthermore, an unethical person gets a bad reputation. This is the second drawback.
“Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, giới bị hư hoại, tiếng xấu đồn xa. Đây là điều nguy hại thứ hai cho người ác giới, do giới bị hư hoại.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati—yadi khattiyaparisaṁ, yadi brāhmaṇaparisaṁ, yadi gahapatiparisaṁ, yadi samaṇaparisaṁ—avisārado upasaṅkamati maṅkubhūto. Ayaṁ tatiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Furthermore, an unethical person enters any kind of assembly unconfident and embarrassed, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics. This is the third drawback.
“Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, giới bị hư hoại, khi đi đến bất cứ hội chúng nào – dù là hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hay hội chúng Sa-môn – người ấy đi đến không tự tin, bối rối. Đây là điều nguy hại thứ ba cho người ác giới, do giới bị hư hoại.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno sammūḷho kālaṁ karoti. Ayaṁ catuttho ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Furthermore, an unethical person feels lost when they die. This is the fourth drawback.
“Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, giới bị hư hoại, khi chết bị mê loạn. Đây là điều nguy hại thứ tư cho người ác giới, do giới bị hư hoại.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Ayaṁ pañcamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. Ime kho, gahapatayo, pañca ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā.
Furthermore, an unethical person, when their body breaks up, after death, is reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. This is the fifth drawback. These are the five drawbacks for an unethical person because of their failure in ethics.
“Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, giới bị hư hoại, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đây là điều nguy hại thứ năm cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Này các gia chủ, đây là năm điều nguy hại cho người ác giới, do giới bị hư hoại.
Pañcime, gahapatayo, ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāya. Katame pañca? Idha, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno appamādādhikaraṇaṁ mahantaṁ bhogakkhandhaṁ adhigacchati. Ayaṁ paṭhamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
There are these five benefits for an ethical person because of their accomplishment in ethics. What five? Firstly, an ethical person gains great wealth on account of diligence. This is the first benefit.
“Này các gia chủ, có năm điều lợi ích này cho người có giới, do giới được đầy đủ. Thế nào là năm? Này các gia chủ, ở đây, người có giới, giới được đầy đủ, do nhân không phóng dật, được hưởng khối tài sản lớn. Đây là điều lợi ích thứ nhất cho người có giới, do giới được đầy đủ.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavato sīlasampannassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati. Ayaṁ dutiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Furthermore, an ethical person gets a good reputation. This is the second benefit.
“Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, giới được đầy đủ, tiếng tốt đồn xa. Đây là điều lợi ích thứ hai cho người có giới, do giới được đầy đủ.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati—yadi khattiyaparisaṁ, yadi brāhmaṇaparisaṁ, yadi gahapatiparisaṁ, yadi samaṇaparisaṁ—visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto. Ayaṁ tatiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Furthermore, an ethical person enters any kind of assembly bold and self-assured, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics. This is the third benefit.
“Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, giới được đầy đủ, khi đi đến bất cứ hội chúng nào – dù là hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hay hội chúng Sa-môn – người ấy đi đến một cách tự tin, không bối rối. Đây là điều lợi ích thứ ba cho người có giới, do giới được đầy đủ.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno asammūḷho kālaṁ karoti. Ayaṁ catuttho ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Furthermore, an ethical person dies not feeling lost. This is the fourth benefit.
“Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, giới được đầy đủ, khi chết không bị mê loạn. Đây là điều lợi ích thứ tư cho người có giới, do giới được đầy đủ.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Ayaṁ pañcamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Ime kho, gahapatayo, pañca ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāyā”ti.
Furthermore, when an ethical person’s body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. This is the fifth benefit. These are the five benefits for an ethical person because of their accomplishment in ethics.”
“Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, giới được đầy đủ, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, cõi trời. Đây là điều lợi ích thứ năm cho người có giới, do giới được đầy đủ. Này các gia chủ, đây là năm điều lợi ích cho người có giới, do giới được đầy đủ.”
Atha kho bhagavā pāṭaligāmiye upāsake bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uyyojesi: “abhikkantā kho, gahapatayo, ratti; yassadāni tumhe kālaṁ maññathā”ti Atha kho pāṭaligāmiyā upāsakā bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu. Atha kho bhagavā acirapakkantesu pāṭaligāmiyesu upāsakesu suññāgāraṁ pāvisi.
The Buddha spent much of the night educating, encouraging, firing up, and inspiring the lay followers of Pāṭali Village with a Dhamma talk. Then he sent them off, “The night is getting late, householders. Please go at your convenience.” And then the lay followers of Pāṭali Village approved and agreed with what the Buddha said. They got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving. Soon after they left the Buddha entered a private cubicle.
Bấy giờ, Thế Tôn đã thuyết pháp cho các cận sự nam ở làng Pāṭali suốt một thời gian dài trong đêm, chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, rồi cho họ ra về: “Này các gia chủ, đêm đã khuya rồi; nay các ông hãy làm những gì các ông nghĩ là hợp thời.” Bấy giờ, các cận sự nam ở làng Pāṭali hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi lui ra. Sau khi các cận sự nam ở làng Pāṭali đi không bao lâu, Thế Tôn đi vào một nơi vắng vẻ.
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāya. Tena kho pana samayena sambahulā devatāyo sahassasahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhanti. Yasmiṁ padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti mahesakkhānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti majjhimānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese nīcā devatā vatthūni pariggaṇhanti nīcānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Addasā kho bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena tā devatāyo sahassasahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhantiyo. Yasmiṁ padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti, mahesakkhānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti, majjhimānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese nīcā devatā vatthūni pariggaṇhanti, nīcānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Now at that time the Magadhan ministers Sunidha and Vassakāra were building a citadel at Pāṭali Village to keep the Vajjis out. At that time thousands of deities were taking possession of building sites in Pāṭali Village. Illustrious rulers or royal chief ministers inclined to build houses at sites possessed by illustrious deities. Middling rulers or royal chief ministers inclined to build houses at sites possessed by middling deities. Lesser rulers or royal chief ministers inclined to build houses at sites possessed by lesser deities.
With clairvoyance that is purified and superhuman, the Buddha saw those deities taking possession of building sites in Pāṭali Village, and the people building houses in accord with the station of the deities.
Vào lúc ấy, các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra đi theo sát phía sau Thế Tôn, (nghĩ rằng): “Hôm nay, Sa-môn Gotama sẽ đi ra bằng cổng nào, cổng ấy sẽ có tên là ‘Cổng Gotama’. Ngài sẽ vượt sông Gaṅgā ở bến nào, bến ấy sẽ có tên là ‘Bến Gotama’.”
Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, đã thấy hàng ngàn, hàng ngàn chư thiên đang chiếm giữ đất đai tại làng Pāṭali. Ở vùng đất nào mà các vị trời có đại thần lực chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần có đại thần lực cũng hướng về việc xây dựng dinh thự tại nơi ấy. Ở vùng đất nào mà các vị trời có trung thần lực chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần có trung thần lực cũng hướng về việc xây dựng dinh thự tại nơi ấy. Ở vùng đất nào mà các vị trời có hạ thần lực chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần có hạ thần lực cũng hướng về việc xây dựng dinh thự tại nơi ấy. Rồi Thế Tôn, vào lúc rạng đông cuối đêm ấy, sau khi thức dậy, đã gọi Tôn giả Ānanda:
“Ke nu kho, ānanda, pāṭaligāme nagaraṁ māpentī”ti.
“Ānanda, who is building a citadel at Pāṭali Village?”
Vào lúc ấy, các đại thần của xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành phố ở làng Pāṭali để phòng ngự dân Vajjī. Cũng vào lúc ấy, có rất nhiều chư thiên, hàng ngàn vị, chiếm giữ các khu đất ở làng Pāṭali. Ở vùng đất nào có các chư thiên đầy quyền năng chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các đại thần đầy quyền năng cũng hướng về việc xây dựng nhà cửa ở đó. Ở vùng đất nào có các chư thiên với quyền năng bậc trung chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các đại thần với quyền năng bậc trung cũng hướng về việc xây dựng nhà cửa ở đó. Ở vùng đất nào có các chư thiên với quyền năng thấp kém chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các đại thần với quyền năng thấp kém cũng hướng về việc xây dựng nhà cửa ở đó.
“Này Ānanda, ai đang xây dựng thành phố tại làng Pāṭali vậy?” “Bạch Thế Tôn, các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng thành phố tại làng Pāṭali để phòng ngự dân Vajjī.” “Này Ānanda, ví như sau khi bàn bạc với chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba; cũng vậy, này Ānanda, các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng thành phố tại làng Pāṭali để phòng ngự dân Vajjī. Này Ānanda, ở đây, Ta với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, đã thấy rất nhiều chư thiên, hàng ngàn, hàng ngàn vị, đang chiếm giữ đất đai tại làng Pāṭali. Ở vùng đất nào mà các vị trời có đại thần lực chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần có đại thần lực cũng hướng về việc xây dựng dinh thự tại nơi ấy. Ở vùng đất nào mà các vị trời có trung thần lực chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần có trung thần lực cũng hướng về việc xây dựng dinh thự tại nơi ấy. Ở vùng đất nào mà các vị trời có hạ thần lực chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần có hạ thần lực cũng hướng về việc xây dựng dinh thự tại nơi ấy. Này Ānanda, trong phạm vi xứ sở của bậc Thánh, trong phạm vi của con đường thương mại, đây sẽ là thành phố hàng đầu, Pāṭaliputta, một nơi để tháo gỡ hàng hóa. Này Ānanda, sẽ có ba mối nguy hiểm cho Pāṭaliputta: từ lửa, từ nước, hoặc từ sự chia rẽ nội bộ.”
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “adhivāsetu no bhavaṁ gotamo ajjatanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Then the Magadhan ministers Sunidha and Vassakāra approached the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they stood to one side and said, “Would Worthy Gotama together with the mendicant Saṅgha please accept today’s meal from me?”
Rồi các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đã cùng Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời nói vui vẻ, đáng ghi nhớ, họ đứng sang một bên. Đứng sang một bên, các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra đã bạch với Thế Tôn lời này: “Xin Tôn giả Gotama hãy nhận lời mời dùng bữa của chúng con cho ngày hôm nay, cùng với Tăng chúng.” Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā yena sako āvasatho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sake āvasathe paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocesuṁ: “kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Then, knowing that the Buddha had consented, they went to their own guest house, where they had delicious fresh and cooked foods prepared. Then they had the Buddha informed of the time, saying, “It’s time, worthy Gotama, the meal is ready.”
Rồi các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra, khi biết được sự nhận lời của Thế Tôn, đã đi đến nơi ở của mình; sau khi đến, tại nơi ở của mình, họ đã cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cho báo thời gian đến Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.”
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena sunidhavassakārānaṁ magadhamahāmattānaṁ āvasatho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesuṁ sampavāresuṁ.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to their guest house together with the mendicant Saṅgha, where he sat down on the seat spread out. Then Sunidha and Vassakāra served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with their own hands with delicious fresh and cooked foods.
Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang y bát, cùng với Tăng chúng, đi đến nơi ở của các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Rồi các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra đã tự tay dâng cúng và làm cho Tăng chúng với Đức Phật dẫn đầu được thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho sunidhavassakāre magadhamahāmatte bhagavā imāhi gāthāhi anumodi:
When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Sunidha and Vassakāra took a low seat and sat to one side. The Buddha expressed his appreciation with these verses:
Rồi các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra, khi Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, họ lấy một chỗ ngồi thấp hơn rồi ngồi sang một bên. Khi các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra đã ngồi sang một bên, Thế Tôn đã tùy hỷ với họ bằng những bài kệ này:
“Yasmiṁ padese kappeti, vāsaṁ paṇḍitajātiyo; Sīlavantettha bhojetvā, saññate brahmacārayo.
“In the place he makes his dwelling, having fed the astute and the virtuous here, the restrained spiritual practitioners,
“Ở vùng đất nào người trí trú ngụ, sau khi cúng dường cho những vị có giới đức, những vị tự chế, những vị sống phạm hạnh tại nơi ấy.”
Yā tattha devatā āsuṁ, tāsaṁ dakkhiṇamādise; Tā pūjitā pūjayanti, mānitā mānayanti naṁ.
he should dedicate an offering to the deities there. Venerated, they venerate him; honored, they honor him.
“Những vị trời nào có mặt tại nơi ấy, nên hồi hướng phước cúng dường đến cho họ; được cúng dường, họ sẽ cúng dường lại; được tôn trọng, họ sẽ tôn trọng lại người ấy.”
Tato naṁ anukampanti, mātā puttaṁva orasaṁ; Devatānukampito poso, sadā bhadrāni passatī”ti.
After that they have sympathy for him, like a mother for the child at her breast. A man beloved of the deities always sees nice things.”
“Do đó, họ thương tưởng người ấy, như mẹ thương con ruột của mình; người được chư thiên thương tưởng, luôn luôn thấy những điều tốt lành.”
Atha kho bhagavā sunidhavassakārānaṁ magadhamahāmattānaṁ imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti: “yenajja samaṇo gotamo dvārena nikkhamissati taṁ gotamadvāraṁ nāma bhavissati. Yena titthena gaṅgaṁ nadiṁ tarissati taṁ gotamatitthaṁ nāma bhavissatī”ti.
When the Buddha had expressed his appreciation to Sunidha and Vassakāra with these verses, he rose from his seat and left.
Sunidha and Vassakāra followed behind the Buddha, thinking, “The gate through which the ascetic Gotama exits today shall be named the Gotama Gate. The ford at which he crosses the Ganges River shall be named the Gotama Ford.”
Rồi Thế Tôn, sau khi tùy hỷ với các vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakāra bằng những bài kệ này, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Atha kho bhagavā yena dvārena nikkhami taṁ gotamadvāraṁ nāma ahosi. Atha kho bhagavā yena gaṅgā nadī tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena gaṅgā nadī pūrā hoti samatittikā kākapeyyā. Appekacce manussā nāvaṁ pariyesanti, appekacce uḷumpaṁ pariyesanti, appekacce kullaṁ bandhanti apārā pāraṁ gantukāmā. Atha kho bhagavā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ—gaṅgāya nadiyā orimatīre antarahito pārimatīre paccuṭṭhāsi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Then the gate through which the Buddha exited was named the Gotama Gate. Then the Buddha came to the Ganges River. Now at that time the Ganges was full to the brim so a crow could drink from it. Wanting to cross from the near to the far shore, some people were seeking a boat, some a dinghy, while some were tying up a raft. But, as easily as a strong person would extend or contract their arm, the Buddha, together with the mendicant Saṅgha, vanished from the near shore and landed on the far shore.
Rồi cổng mà Thế Tôn đã đi ra được đặt tên là ‘Cổng Gotama’. Sau đó, Thế Tôn đi đến sông Gaṅgā. Vào lúc ấy, sông Gaṅgā nước dâng đầy, bằng phẳng với bờ, quạ có thể uống được. Một số người muốn đi từ bờ bên này sang bờ bên kia đang tìm thuyền, một số đang tìm bè gỗ, một số đang kết bè tre. Rồi Thế Tôn, cũng như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, Ngài đã biến mất khỏi bờ bên này của sông Gaṅgā và hiện ra ở bờ bên kia cùng với Tăng chúng.
Addasā kho bhagavā te manusse appekacce nāvaṁ pariyesante, appekacce uḷumpaṁ pariyesante, appekacce kullaṁ bandhante apārā pāraṁ gantukāme.
He saw all those humans wanting to cross over.
Thế Tôn đã nhìn thấy những người ấy, với mong muốn đi từ bờ bên này sang bờ bên kia, một số đang tìm kiếm chiếc thuyền, một số đang tìm kiếm chiếc bè gỗ, một số đang kết chiếc bè sậy.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Rồi Thế Tôn, sau khi đã hiểu rõ ý nghĩa ấy, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Ye taranti aṇṇavaṁ saraṁ, Setuṁ katvāna visajja pallalāni; Kullañhi jano pabandhati, Tiṇṇā medhāvino janā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“Those who cross a deluge or stream have built a bridge and left the marshes behind. While some people are still tying a raft, intelligent people have crossed over.”
“Những vị vượt qua biển hồ, sau khi đã làm cây cầu, từ bỏ các vũng lầy; trong khi người đời kết bè, các bậc trí tuệ là những người đã vượt qua.”