- Udāna 8.5
Cundasutta
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā mallesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena pāvā tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā pāvāyaṁ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane.
Bản dịch
Cundasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn, trong khi đi du hành ở xứ sở của những người Mallā cùng với đại chúng tỳ khưu, đã ngự đến thành Pāvā. Tại đó, nơi thành Pāvā, đức Thế Tôn ngụ ở vườn xoài của Cunda, con trai người thợ rèn.
2. Cunda, con trai người thợ rèn, đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn trong khi đi du hành ở xứ sở của những người Mallā cùng với đại chúng tỳ khưu, đã đi đến thành Pāvā. Ở thành Pāvā, Ngài ngụ ở vườn xoài của ta.” Sau đó, Cunda, con trai người thợ rèn, đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi Cunda, con trai người thợ rèn, đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người ấy bằng bài Pháp thoại.
3. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Cunda, con trai người thợ rèn, đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, Cunda, con trai người thợ rèn, hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
4. Sau đó, khi trải qua đêm ấy, Cunda, con trai người thợ rèn, đã cho chuẩn bị vật thực cứng mềm hảo hạng và dồi dào món thịt heo hầm tại tư gia, rồi cho thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: “Bạch Ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã quấn y (nội), rồi cầm bình bát và y cùng với hội chúng tỳ khưu đi đến tư gia của Cunda, con trai người thợ rèn, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt. Sau khi đã ngồi xuống, đức Thế Tôn đã bảo Cunda, con trai người thợ rèn, rằng: “Này Cunda, món thịt heo hầm nào đã được ngươi chuẩn bị thì hãy dọn cho Ta món ấy. Còn các vật thực cứng mềm nào khác đã được chuẩn bị thì hãy dọn cho hội chúng tỳ khưu món ấy.”
5. “Bạch Ngài, xin vâng.” Cunda, con trai người thợ rèn, nghe theo đức Thế Tôn và món thịt heo hầm nào đã được chuẩn bị thì đã dọn cho đức Thế Tôn món ấy. Còn vật thực cứng mềm nào khác đã được chuẩn bị thì đã dọn cho hội chúng tỳ khưu món ấy.
6. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo với Cunda, con trai người thợ rèn, rằng: “Này Cunda, phần thịt heo hầm của ngươi còn thừa lại, hãy chôn nó xuống ở hố. Này Cunda, Ta không nhìn thấy người nào ở thế gian, tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, mà món ăn ấy khi đã được người ấy ăn vào có thể đi đến sự tiêu hóa tốt đẹp, ngoại trừ đức Như Lai.” “Bạch Ngài, xin vâng.” Cunda, con trai người thợ rèn, nghe theo đức Thế Tôn đã chôn phần thịt heo hầm còn thừa lại xuống ở hố, rồi đã đi đến gặp đức Thế tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi Cunda, con trai người thợ rèn, đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người ấy bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
7. Sau đó, khi đức Thế Tôn đã ăn xong bữa ăn của Cunda, con trai người thợ rèn, có cơn bệnh dữ dội đã phát khởi đến Ngài, với triệu chứng tiêu chảy ra máu và các cảm thọ khốc liệt kề cận cái chết. Tại đó, đức Thế Tôn đã chịu đựng, có niệm, có sự nhận biết rõ, không sầu khổ.
8. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, chúng ta hãy đến, chúng ta sẽ đi đến Kusinārā.” “Bạch Ngài, xin vâng,” đại đức Ānanda đã đáp lời đức Thế Tôn.
“Tôi đã nghe rằng: Sau khi thọ thực bữa ăn của người thợ rèn Cunda,
bậc Sáng Trí đã tiếp cận cơn bệnh khốc liệt, kề cận cái chết.
Và khi đã ăn vào món thịt heo hầm,
cơn bệnh khốc liệt đã phát khởi đến bậc Đạo Sư.
Trong khi được xổ, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘Chúng ta hãy đi đến thành Kusinārā.’”
9. Khi ấy, đức Thế Tôn đã rời con đường lộ rồi đi đến gần gốc cây nọ, sau khi đến đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, vậy ngươi hãy xếp đặt y hai lớp được gấp tư lại. Này Ānanda, Ta đang mệt, Ta sẽ ngồi xuống.” “Bạch Ngài, xin vâng.” Đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã xếp đặt y hai lớp được gấp tư lại. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, vậy ngươi hãy mang nước lại. Này Ānanda, Ta bị khát, Ta sẽ uống nước.” Khi được nói như vậy, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, giờ đây các cỗ xe hàng số lượng năm trăm vừa đi qua. Nước ấy, bị bánh xe chạy qua, trở nên ít ỏi, bị quậy lên, bị vẩn đục, trôi chảy. Bạch Ngài, con sông Kukutthā ở nơi không xa, có nước trong, có nước lành, có nước mát, có nước sạch, có bến nước xinh xắn. Ở nơi này, đức Thế Tôn sẽ uống nước và sẽ làm mát mẻ cơ thể.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, vậy ngươi hãy mang nước lại. Này Ānanda, Ta bị khát, Ta sẽ uống nước.” Đến lần thứ nhì, —như trên— sẽ làm mát mẻ cơ thể.” Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, vậy ngươi hãy mang nước lại. Này Ānanda, Ta bị khát, Ta sẽ uống nước.” “Bạch Ngài, xin vâng.” Đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã cầm lấy cái bình bát đi đến gần con sông ấy.
10. Khi ấy, con sông ấy, bị bánh xe chạy qua, trở nên ít ỏi, bị quậy lên, bị vẩn đục, đang trôi chảy, trong khi đại đức Ānanda đang đi đến gần, thì trở nên trong sạch, không bị vẩn đục, tinh khiết, trôi chảy. Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ diệu! Thật là phi thường! Đức Như Lai có đại thần lực, có đại oai lực! Bởi vì con sông này đây, bị bánh xe chạy qua, trở nên ít ỏi, bị quậy lên, bị vẩn đục, đang trôi chảy, trong khi ta đang đi đến gần, thì trở nên trong sạch, không bị vẩn đục, tinh khiết, trôi chảy.” Sau khi lấy nước uống bằng cái bình bát, đại đức Ānanda đã đi gặp đến đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, thật là kỳ diệu! Bạch Ngài, thật là phi thường! Đức Như Lai có đại thần lực, có đại oai lực! Bạch Ngài, bởi vì con sông này đây, bị bánh xe chạy qua, trở nên ít ỏi, bị quậy lên, bị vẩn đục, đang trôi chảy, trong khi con đang đi đến gần, thì trở nên trong sạch, không bị vẩn đục, tinh khiết, trôi chảy. Xin đức Thế Tôn hãy uống nước, xin đấng Thiện Thệ hãy uống nước.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã uống nước.
11. Sau đó, đức Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ khưu đã đi đến sông Kukutthā, sau khi đến đã đi xuống sông Kukutthā, tắm, và đi trở lên rồi đi đến vườn xoài, sau khi đến đã bảo đại đức Cundaka rằng: “Này Cundaka, vậy ngươi hãy xếp đặt y hai lớp được gấp tư lại. Này Ānanda, Ta đang mệt, Ta sẽ nằm xuống.” “Bạch Ngài, xin vâng.” Đại đức Cundaka nghe theo đức Thế Tôn đã xếp đặt y hai lớp được gấp tư lại. Sau đó, đức Thế Tôn đã nằm thế nằm của loài sư tử bằng hông bên phải, đặt bàn chân này lên bàn chân kia, có niệm, có sự nhận biết rõ, sau khi đã tác ý đến tư tưởng về việc đứng dậy, còn đại đức Cundaka đã ngồi xuống ngay tại chỗ ấy, phía trước đức Thế Tôn.
“Đức Phật sau khi đi đến con sông Kukutthā,
có nước trong sạch, có nước lành, có nước tinh khiết,
bậc Đạo Sư, với dáng vẻ vô cùng mệt nhọc, đã lội xuống,
đức Như Lai, không người sánh bằng, ở thế gian này.
Bậc Đạo Sư, sau khi tắm và uống nước, đã đi lên,
được tôn vinh, ở giữa một nhóm tỳ khưu,
bậc Đạo Sư, đức Thế Tôn, người chuyển vận Giáo Pháp ở nơi này,
vị ẩn sĩ vĩ đại đã đi đến vườn xoài.
Ngài đã bảo vị tỳ khưu tên Cundaka rằng:
‘Hãy trải ra (y hai lớp) được gấp tư lại làm chỗ nằm cho Ta,
được nhắc nhở bởi bậc có bản thân đã được tu tập, vị Cunda ấy
ngay lập tức đã trải ra (y hai lớp) được gấp tư lại.
Bậc Đạo Sư, với dáng vẻ vô cùng mệt nhọc, đã nằm xuống,
vị Cunda cũng đã ngồi tại nơi ấy, ở phía trước mặt.”
12. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, hơn nữa nếu người nào khơi dậy sự ân hận cho Cunda, con trai người thợ rèn, rằng: ‘Này đạo hữu Cunda, thật là điều không lợi ích đã có cho ngươi đây! Này đạo hữu Cunda, thật là điều đạt được xấu xa đã có cho ngươi đây! Bởi vì đức Thế Tôn sau khi thọ thực món thí thực cuối cùng của ngươi đây đã viên tịch Niết Bàn.’ Này Ānanda, nỗi ân hận như thế của Cunda, con trai người thợ rèn, cần được xua tan rằng: ‘‘Này đạo hữu Cunda, thật là điều lợi ích đã có cho ngươi đây! Này đạo hữu Cunda, thật là điều đạt được tốt đẹp đã có cho ngươi đây! Bởi vì đức Thế Tôn sau khi thọ thực món thí thực cuối cùng của ngươi đây đã viên tịch Niết Bàn. Này đạo hữu Cunda, điều này đã được tôi trực tiếp nghe, trực tiếp thọ nhận từ đức Thế Tôn rằng: ‘Hai phần thí thực này có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác. Hai phần thí thực nào? Phần thí thực mà sau khi thọ dụng đức Như Lai giác ngộ phẩm vị Chánh Đẳng Giác tối thượng, và phần thí thực sau khi thọ dụng đức Như Lai viên tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Hai phần thí thực này có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác. Nghiệp đưa đến tuổi thọ đã được vị đáng kính Cunda tích lũy. Nghiệp đưa đến sắc đẹp đã được vị đáng kính Cunda tích lũy. Nghiệp đưa đến hạnh phúc đã được vị đáng kính Cunda tích lũy. Nghiệp đưa đến danh tiếng đã được vị đáng kính Cunda tích lũy. Nghiệp đưa đến cõi Trời đã được vị đáng kính Cunda tích lũy. Nghiệp đưa đến uy quyền đã được vị đáng kính Cunda tích lũy.’ Này Ānanda, nỗi ân hận như thế của Cunda, con trai người thợ rèn, cần được xua tan.”
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự, và người hiền thiện từ bỏ điều ác, do sự diệt tận luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā mallesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena pāvā tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā pāvāyaṁ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane.
So I have heard. At one time the Buddha was wandering in the land of the Mallas together with a large Saṅgha when he arrived at Pāvā. There he stayed in Cunda the smith’s mango grove.
75. Tôi nghe như vầy – một thời, đức Thế Tôn, trong khi đang du hành ở xứ Malla cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đi đến nơi có thành Pāvā. Tại đó, đức Thế Tôn đã trú ở Pāvā, trong vườn xoài của Cunda, con trai người thợ rèn.
Assosi kho cundo kammāraputto: “bhagavā kira mallesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pāvaṁ anuppatto pāvāyaṁ viharati mayhaṁ ambavane”ti. Atha kho cundo kammāraputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cundaṁ kammāraputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho cundo kammāraputto bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavantaṁ etadavoca: “adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Cunda heard that the Buddha had arrived and was staying in his mango grove. Then he went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired him with a Dhamma talk. Then Cunda said to the Buddha, “Sir, would the Buddha, together with the mendicant Saṅgha, please accept tomorrow’s meal from me?” The Buddha consented with silence.
Cunda, con trai người thợ rèn, đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn, trong khi đang du hành ở xứ Malla cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đến Pāvā và đang trú tại Pāvā, trong vườn xoài của ta.” Rồi Cunda, con trai người thợ rèn, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ Cunda, con trai người thợ rèn, đang ngồi một bên, bằng bài pháp thoại. Rồi Cunda, con trai người thợ rèn, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã bạch với đức Thế Tôn lời này: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn, cùng với chúng Tỳ khưu, nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng.
Atha kho cundo kammāraputto bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho cundo kammāraputto tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā pahūtañca sūkaramaddavaṁ bhagavato kālaṁ ārocāpesi: “kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Then, knowing that the Buddha had consented, Cunda rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving. And when the night had passed Cunda had delicious fresh and cooked foods prepared in his own home, and plenty of pork on the turn. Then he had the Buddha informed of the time, saying, “Sir, it’s time. The meal is ready.”
Rồi Cunda, con trai người thợ rèn, sau khi biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra đi. Rồi Cunda, con trai người thợ rèn, sau khi đêm ấy đã qua, tại nhà của mình, đã cho chuẩn bị các món ăn cứng và mềm thượng vị, và nhiều món sūkaramaddava, rồi cho báo thời gian đến đức Thế Tôn: “Bạch ngài, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.”
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena cundassa kammāraputtassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā cundaṁ kammāraputtaṁ āmantesi: “yaṁ te, cunda, sūkaramaddavaṁ paṭiyattaṁ tena maṁ parivisa, yaṁ panaññaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ tena bhikkhusaṅghaṁ parivisā”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho cundo kammāraputto bhagavato paṭissutvā yaṁ ahosi sūkaramaddavaṁ paṭiyattaṁ tena bhagavantaṁ parivisi; yaṁ panaññaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ tena bhikkhusaṅghaṁ parivisi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of Cunda together with the mendicant Saṅgha, where he sat down on the seat spread out and addressed Cunda, “Cunda, please serve me with the pork on the turn that you’ve prepared. And serve the mendicant Saṅgha with the other foods.” “Yes, sir,” replied Cunda, and did as he was asked.
Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, cùng với Tăng chúng đi đến trú xứ của Cunda, con người thợ rèn; sau khi đến, Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi Cunda, con người thợ rèn: ‘Này Cunda, món sūkaramaddava nào đã được ngươi sửa soạn, hãy dùng món ấy dọn cho ta. Còn những món ăn khác, loại cứng và loại mềm, đã được sửa soạn, hãy dùng những món ấy dọn cho Tăng chúng.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ Cunda, con người thợ rèn, vâng lời Thế Tôn, rồi dùng món sūkaramaddava đã được sửa soạn để dọn cho Thế Tôn; còn những món ăn khác, loại cứng và loại mềm, đã được sửa soạn, ông dùng những món ấy dọn cho Tăng chúng.
Atha kho bhagavā cundaṁ kammāraputtaṁ āmantesi: “yaṁ te, cunda, sūkaramaddavaṁ avasiṭṭhaṁ taṁ sobbhe nikhaṇāhi. Nāhaṁ taṁ, cunda, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yassa taṁ paribhuttaṁ sammā pariṇāmaṁ gaccheyya aññatra tathāgatassā”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho cundo kammāraputto bhagavato paṭissutvā yaṁ ahosi sūkaramaddavaṁ avasiṭṭhaṁ taṁ sobbhe nikhaṇitvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cundaṁ kammāraputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Then the Buddha addressed Cunda, “Cunda, any pork on the turn that’s left over, you should bury it in a pit. I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could properly digest it except the Realized One.” “Yes, sir,” replied Cunda. He did as he was asked, then came back to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired him with a Dhamma talk, after which he rose from his seat and left.
Bấy giờ, Thế Tôn gọi Cunda, con người thợ rèn: ‘Này Cunda, món sūkaramaddava nào của ngươi còn lại, hãy đem chôn nó trong một cái hố. Này Cunda, trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, ta không thấy một ai, ngoài Như Lai, sau khi ăn món ấy có thể tiêu hóa được một cách trọn vẹn.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ Cunda, con người thợ rèn, vâng lời Thế Tôn, rồi đem món sūkaramaddava còn lại chôn trong một cái hố, sau đó đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi Cunda, con người thợ rèn, đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Atha kho bhagavato cundassa kammāraputtassa bhattaṁ bhuttāvissa kharo ābādho uppajji. Lohitapakkhandikā pabāḷhā vedanā vattanti māraṇantikā. Tatra sudaṁ bhagavā sato sampajāno adhivāsesi avihaññamāno.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena kusinārā tenupasaṅkamissāmā”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
After the Buddha had eaten Cunda’s meal, he fell severely ill with bloody dysentery, struck by dreadful pains, close to death. But he endured unbothered, with mindfulness and situational awareness.
Then the Buddha said to Venerable Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to Kusinārā.” “Yes, sir,” Ānanda replied.
Bấy giờ, sau khi dùng bữa ăn của Cunda, con người thợ rèn, một cơn bệnh khốc liệt khởi lên nơi Thế Tôn. Bệnh kiết lỵ ra máu, những cảm thọ đau đớn mãnh liệt đến mức gần chết tiếp diễn. Ở đó, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn bệnh mà không than van. Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kusinārā.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
Cundassa bhattaṁ bhuñjitvā, kammārassāti me sutaṁ; Ābādhaṁ samphusī dhīro, pabāḷhaṁ māraṇantikaṁ.
I’ve heard that after eating the meal of Cunda the smith, the attentive one fell severely ill, with pains, close to death.
‘Sau khi dùng bữa ăn của Cunda, người thợ rèn, tôi nghe rằng: Bậc Trí Giả đã phải chịu một cơn bệnh, khốc liệt, gần kề cái chết.’
Bhuttassa ca sūkaramaddavena, Byādhippabāḷho udapādi satthuno; Viriccamāno bhagavā avoca, “Gacchāmahaṁ kusināraṁ nagaran”ti.
A severe sickness struck the Teacher who had eaten the pork on the turn. While still purging the Buddha said: “I’ll go to the citadel of Kusinārā.”
‘Và sau khi dùng món sūkaramaddava, một cơn bệnh khốc liệt đã khởi lên nơi bậc Đạo Sư; trong khi bị bệnh kiết lỵ, Thế Tôn đã nói: ‘Ta sẽ đi đến thành Kusinārā.’
Atha kho bhagavā maggā okkamma yena aññataraṁ rukkhamūlaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, ānanda, catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññāpehi; kilantosmi, ānanda, nisīdissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññāpesi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara; pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti.
Then the Buddha left the road and went to the root of a certain tree, where he addressed Ānanda, “Go on then, Ānanda, fold my outer robe in four and spread it out for me. I am tired and will sit down.” “Yes, sir,” replied Ānanda, and did as he was asked. The Buddha sat down on the seat spread out, and said to Venerable Ānanda, “Go on then, Ānanda, fetch me some water. I am thirsty and will drink.”
Bấy giờ, Thế Tôn đi ra khỏi con đường, đến dưới một gốc cây; sau khi đến, Ngài gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, hãy trải cho ta Tăng-già-lê gấp làm tư; ta mệt rồi, này Ānanda, ta sẽ ngồi xuống.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, rồi trải Tăng-già-lê gấp làm tư. Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, hãy lấy cho ta nước uống; ta khát rồi, này Ānanda, ta sẽ uống.’
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “idāni, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni. Taṁ cakkacchinnaṁ udakaṁ parittaṁ luḷitaṁ āvilaṁ sandati. Ayaṁ, bhante, kukudhā nadī avidūre acchodakā sātodakā sītodakā setodakā supatitthā ramaṇīyā. Ettha bhagavā pānīyañca pivissati gattāni ca sītīkarissatī”ti.
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Sir, just now around five hundred carts have passed by. The shallow water has been churned up by their wheels, and it flows cloudy and murky. The Kakutthā River is not far away, with clear, sweet, cool water, clean, with smooth banks, delightful. There the Buddha can drink and cool his limbs.”
Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, vừa rồi có khoảng năm trăm cỗ xe đã đi qua. Dòng nước nhỏ ấy, bị bánh xe cắt qua, chảy khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kukuṭṭhā ở không xa, nước trong, nước ngọt, nước mát, nước sạch, bến nước tốt, thật khả ái. Ở đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm mát chân tay.’
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara; pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā pattaṁ gahetvā yena sā nadī tenupasaṅkami. Atha kho sā nadī cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā āyasmante ānande upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandati.
For a second time … For a third time, the Buddha said to Ānanda, “Go on then, Ānanda, fetch me some water. I am thirsty and will drink.” “Yes, sir,” replied Ānanda. Taking his bowl he went to the river. Now, though the shallow water in that river had been churned up by wheels, and flowed cloudy and murky, when Ānanda approached it flowed transparent, clear, and unclouded.
Lần thứ hai... lần thứ ba, Thế Tôn lại gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, hãy lấy cho ta nước uống; ta khát rồi, này Ānanda, ta sẽ uống.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, rồi cầm bát đi đến dòng sông nhỏ ấy. Bấy giờ, dòng sông nhỏ ấy, vốn bị bánh xe cắt qua, chảy khuấy động và vẩn đục, khi Tôn giả Ānanda đến gần, lại trở nên trong, sáng, không vẩn đục mà chảy.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. Ayañhi sā nadī cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā mayi upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandatī”ti. Pattena pānīyaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. Ayañhi sā, bhante, nadī cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā mayi upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandati. Pivatu bhagavā pānīyaṁ, pivatu sugato pānīyan”ti.
Then Venerable Ānanda thought, “Oh lord, how incredible, how amazing! The Realized One has such psychic power and might! For though the shallow water in that river had been churned up by wheels, and flowed cloudy and murky, when I approached it flowed transparent, clear, and unclouded.” Gathering a bowl of drinking water he went back to the Buddha, and said to him, “It’s incredible, sir, it’s amazing! The Realized One has such psychic power and might! For though the shallow water in that river had been churned up by wheels, and flowed cloudy and murky, when I approached it flowed transparent, clear, and unclouded. Drink the water, Blessed One! Drink the water, Holy One!”
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda khởi lên ý nghĩ: ‘Thật kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay! Oai lực và thần thông vĩ đại của Như Lai! Dòng sông nhỏ này, vốn bị bánh xe cắt qua, chảy khuấy động và vẩn đục, khi ta đến gần, lại trở nên trong, sáng, không vẩn đục mà chảy!’ Ngài dùng bát múc nước rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ngài bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay! Bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay! Oai lực và thần thông vĩ đại của Như Lai! Bạch Thế Tôn, chính dòng sông nhỏ này, vốn bị bánh xe cắt qua, chảy khuấy động và vẩn đục, khi con đến gần, lại trở nên trong, sáng, không vẩn đục mà chảy! Xin Thế Tôn hãy uống nước, xin Thiện Thệ hãy uống nước.’
Atha kho bhagavā pānīyaṁ apāyi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena kukudhā nadī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kukudhaṁ nadiṁ ajjhogāhetvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena ambavanaṁ tenupasaṅkami. Upasaṅkamitvā āyasmantaṁ cundakaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, cundaka, catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññāpehi; kilantosmi, cundaka, nipajjissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā cundako bhagavato paṭissutvā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññāpesi. Atha kho bhagavā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā. Āyasmā pana cundako tattheva bhagavato purato nisīdi.
So the Buddha drank the water. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants went to the Kakutthā River. He plunged into the river and bathed and drank. And when he had emerged, he went to the mango grove, where he addressed Venerable Cundaka, “Go on then, Cundaka, fold my outer robe in four and spread it out for me. I am tired and will lie down.”
“Yes, sir,” replied Cundaka, and did as he was asked. And then the Buddha laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. But Cundaka sat down right there in front of the Buddha.
Bấy giờ, đức Thế Tôn đã dùng nước. Bấy giờ, đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ khưu đi đến sông Kukuṭṭhā; sau khi đến, ngài đi xuống sông Kukuṭṭhā, tắm và uống nước, rồi đi lên bờ và đi đến khu vườn xoài; sau khi đến, ngài gọi Tôn giả Cundaka: – Này Cundaka, hãy trải cho ta y tăng-già-lê xếp làm bốn; này Cundaka, ta mệt, ta sẽ nằm nghỉ. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Cundaka vâng lời đức Thế Tôn, đã trải y tăng-già-lê xếp làm bốn. Bấy giờ, đức Thế Tôn nằm xuống trong tư thế con sư tử, về phía hông bên phải, chân này gác lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác, tác ý đến tưởng khởi dậy. Và Tôn giả Cundaka đã ngồi xuống ngay tại đó, ở phía trước đức Thế Tôn.
Gantvāna buddho nadikaṁ kukudhaṁ, Acchodakaṁ sātudakaṁ vippasannaṁ; Ogāhi satthā sukilantarūpo, Tathāgato appaṭimodha loke.
Nhatvā ca pivitvā cudatāri satthā,
Having gone to Kakutthā Creek, whose water was transparent, sweet, and clear, the Teacher, being tired, plunged in, the Realized One, without compare in the world.
And after bathing and drinking the Teacher emerged.
Bậc Giác Ngộ đã đi đến sông Kukuṭṭhā, nước trong, nước ngọt, và rất thanh tịnh; bậc Đạo Sư, thân thể mệt mỏi, đã đi xuống sông; đức Như Lai, không ai sánh bằng ở thế gian này.
So codito bhāvitattena cundo,
The evolved one urged Cunda,
Bậc Đạo Sư đã tắm và uống nước rồi đi lên bờ, đi ở phía trước, giữa chúng Tỳ khưu; bậc Đạo Sư, bậc Thế Tôn, người tuyên thuyết Chánh pháp ở đời này, bậc Đại Sĩ đã đi đến khu vườn xoài; ngài gọi vị Tỳ khưu tên là Cundaka: ‘Hãy trải cho ta y bốn lớp để nằm nghỉ.’
Vị Cunda ấy, được bậc có tâm tu tập thúc giục, đã nhanh chóng trải y bốn lớp. Bậc Đạo Sư, thân thể mệt mỏi, đã nằm nghỉ. Cunda cũng đã ngồi ở phía trước tại nơi ấy.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “siyā kho panānanda, cundassa kammāraputtassa koci vippaṭisāraṁ upadaheyya: ‘tassa te, āvuso cunda, alābhā, tassa te dulladdhaṁ yassa te tathāgato pacchimaṁ piṇḍapātaṁ bhuñjitvā parinibbuto’ti. Cundassānanda, kammāraputtassa evaṁ vippaṭisāro paṭivinodetabbo—
Then the Buddha said to Venerable Ānanda, “Now it may happen, Ānanda, that others may give rise to some regret for Cunda the smith: ‘It’s your loss, respectable Cunda, it’s your misfortune, in that the Realized One was fully quenched after eating his last almsmeal from you.’ You should dispel remorse in Cunda the smith like this:
Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: – Này Ānanda, có thể có người làm cho Cunda, con người thợ rèn, sanh lòng hối hận: ‘Này hiền giả Cunda, thật bất lợi cho ông, thật không may cho ông, khi đức Như Lai đã dùng bữa ăn cuối cùng của ông rồi nhập diệt.’ Này Ānanda, sự hối hận của Cunda, con người thợ rèn, cần được xua tan như thế này:
Tassa te, āvuso cunda, lābhā, tassa te suladdhaṁ yassa te tathāgato pacchimaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā parinibbuto. Sammukhā metaṁ, āvuso cunda, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ—dveme piṇḍapātā samasamaphalā samasamavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca. Katame dve? Yañca piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati. Ime dve piṇḍapātā samasamaphalā samasamavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca.
‘You’re fortunate, respectable Cunda, you’re so very fortunate, in that the Realized One was fully quenched after eating his last almsmeal from you. I have heard and learned this in the presence of the Buddha. There are two almsmeal offerings that have identical fruit and result, and are more fruitful and beneficial than other almsmeal offerings. What two? The almsmeal after eating which a Realized One awakens to the supreme perfect awakening; and the almsmeal after eating which he becomes fully extinguished in the element of extinguishment with no residue. These two almsmeal offerings have identical fruit and result, and are more fruitful and beneficial than other almsmeal offerings.
‘Này hiền giả Cunda, thật là lợi ích cho ông, thật là may mắn cho ông, khi đức Như Lai đã dùng bữa ăn cuối cùng của ông rồi nhập diệt. Này hiền giả Cunda, chính tôi đã trực tiếp nghe từ đức Thế Tôn, đã trực tiếp thọ nhận: ‘Có hai bữa ăn này có quả bằng nhau, có dị thục bằng nhau, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn rất nhiều so với các bữa ăn khác. Hai bữa nào? Bữa ăn mà sau khi dùng, đức Như Lai chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, và bữa ăn mà sau khi dùng, ngài nhập Vô Dư Y Niết Bàn Giới. Hai bữa ăn này có quả bằng nhau, có dị thục bằng nhau, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn rất nhiều so với các bữa ăn khác.’
‘Āyusaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, vaṇṇasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, sukhasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, saggasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, yasasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, ādhipateyyasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitan’ti. Cundassānanda, kammāraputtassa evaṁ vippaṭisāro paṭivinodetabbo”ti.
You’ve accumulated a deed that leads to long life, beauty, happiness, glory, heaven, and sovereignty.’ You should dispel remorse in Cunda the smith like this.”
‘Nghiệp đưa đến tuổi thọ đã được Tôn giả Cunda, con người thợ rèn, tích lũy; nghiệp đưa đến sắc đẹp đã được Tôn giả Cunda, con người thợ rèn, tích lũy; nghiệp đưa đến an lạc đã được Tôn giả Cunda, con người thợ rèn, tích lũy; nghiệp đưa đến cõi trời đã được Tôn giả Cunda, con người thợ rèn, tích lũy; nghiệp đưa đến danh tiếng đã được Tôn giả Cunda, con người thợ rèn, tích lũy; nghiệp đưa đến quyền uy đã được Tôn giả Cunda, con người thợ rèn, tích lũy.’ Này Ānanda, sự hối hận của Cunda, con người thợ rèn, cần được xua tan như thế ấy.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Dadato puññaṁ pavaḍḍhati, Saṁyamato veraṁ na cīyati; Kusalo ca jahāti pāpakaṁ, Rāgadosamohakkhayā sanibbuto”ti.
Pañcamaṁ.
“A giver’s merit grows; enmity doesn’t build up when you have self-control. A skillful person gives up bad things—with the end of greed, hate, and delusion, <j>they’re quenched.”
‘Người bố thí, phước đức tăng trưởng; người tự chế, oán thù không sanh; người thiện xảo từ bỏ điều ác; do đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch tịnh.’ Hết phẩm thứ năm.