- Udāna 7.8
Kaccānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kaccānasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Mahākaccāna ngồi ở nơi không xa đức Thế Tôn, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, với niệm hướng đến thân đã khéo được thiết lập luôn hiện diện ở nội phần. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy đại đức Mahākaccāna ngồi ở nơi không xa, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, với niệm hướng đến thân đã khéo được thiết lập luôn hiện diện ở nội phần.
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Đối với vị nào, niệm hướng đến thân có thể được thiết lập thường xuyên vào mọi lúc (rằng): ‘Nó không có và nó không là của tôi, nó sẽ không có và nó sẽ không là của tôi,’ với sự an trú theo tuần tự tại nơi ấy, vào đúng thời điểm vị ấy có thể vượt qua sự vướng mắc (tham ái).”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Kaccāna
68. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika tại Jetavana. Bấy giờ, Tôn giả Mahākaccāna đang ngồi không xa đức Thế Tôn, xếp bằng, giữ thân thẳng, với niệm về thân được thiết lập vững chắc bên trong, hướng về phía trước.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ avidūre nisinnaṁ pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya kāyagatāya satiyā ajjhattaṁ parimukhaṁ sūpaṭṭhitāya.
The Buddha saw him meditating there.
Đức Thế Tôn đã thấy Tôn giả Mahākaccāna đang ngồi không xa, xếp bằng, giữ thân thẳng, với niệm về thân được thiết lập vững chắc bên trong, hướng về phía trước.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi liễu tri ý nghĩa ấy, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Yassa siyā sabbadā sati, Satataṁ kāyagatā upaṭṭhitā; No cassa no ca me siyā, Na bhavissati na ca me bhavissati; Anupubbavihāri tattha so, Kāleneva tare visattikan”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Their mindfulness would always be established in the body, constant: ‘It might not be, and it might not be mine, It will not be, and it will not be mine.’ Meditating stage by stage on that, in time they’d cross over clinging.”
“Người nào luôn luôn có niệm, niệm về thân được thiết lập thường trực, (quán rằng:) ‘Nó đã không có, nó sẽ không là của ta; nó sẽ không có, nó sẽ không là của ta.’ Vị ấy, an trú tuần tự như vậy, đúng thời sẽ vượt qua được sự dính mắc.” (Kinh thứ tám)