- Udāna 6.4
Paṭhamanānātitthiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Paṭhamanānātitthiyasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, nhiều Sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ thuộc các giáo phái khác nhau cư ngụ ở Sāvatthi có quan điểm khác nhau, có sự chấp nhận khác nhau, có sự ưa thích khác nhau, nương tựa vào sự nâng đỡ của những quan điểm khác nhau.
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Thế giới là trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (1)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Thế giới là không trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (2)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Thế giới là có giới hạn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (3)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Thế giới là không có giới hạn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (4)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Mạng sống là vật ấy thân thể là vật ấy; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (5)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Mạng sống là vật khác thân thể là vật khác; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (6)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (7)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (8)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (9)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (10)
Họ đã nảy sanh sự xung đột, đã nảy sanh sự cãi cọ, đã tiến đến sự tranh luận, sống châm chích lẫn nhau bằng các vũ khí của mồm miệng (nói rằng): “Pháp là như thế này, pháp không phải là như thế kia. Pháp không phải là như thế kia, pháp là như thế này.”
2. Khi ấy, vào buổi sáng nhiều vị tỳ khưu đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y đi vào thành Sāvatthi để khất thực. Sau khi đi khất thực ở thành Sāvatthi, sau bữa ăn trong khi đi khất thực trở về, đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, ở đây nhiều Sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ thuộc các giáo phái khác nhau cư trú ở Sāvatthi có quan điểm khác nhau, có sự chấp nhận khác nhau, có sự ưa thích khác nhau, nương tựa vào sự nâng đỡ của những quan điểm khác nhau. Có một số —như trên— Pháp không phải là như thế kia, pháp là như thế này.”
3. “Này các tỳ khưu, các du sĩ ngoại đạo là bị mù, không có mắt (tuệ nhãn), không biết điều lợi ích, không biết điều không lợi ích, không biết pháp, không biết phi pháp. Trong khi không biết điều lợi ích, trong khi không biết điều không lợi ích, trong khi không biết pháp, trong khi không biết phi pháp, họ đã nảy sanh sự xung đột, đã nảy sanh sự cãi cọ, đã tiến đến sự tranh luận, sống châm chích lẫn nhau bằng các vũ khí của mồm miệng (nói rằng): ‘Pháp là như thế này, pháp không phải là như thế kia. Pháp không phải là như thế kia, pháp là như thế này.’
4. Này các tỳ khưu, vào thời quá khứ ngay tại thành Sāvatthi này đã có vị vua nọ. Này các tỳ khưu, khi ấy vị vua ấy đã bảo một người đàn ông nọ rằng: ‘Này nam nhân, hãy đến. Ở thành Sāvatthi có bao nhiêu người mù bẩm sinh thì ngươi hãy tập trung tất cả bọn họ lại một chỗ.’ ‘Tâu bệ hạ, xin vâng.’ Này các tỳ khưu, người đàn ông ấy nghe theo vị vua ấy, rồi ở thành Sāvatthi có bao nhiêu người mù bẩm sinh thì đã bắt hết tất cả bọn họ, sau đó đã đi đến gặp vị vua ấy, sau khi đến đã nói với vị vua ấy điều này: ‘Tâu bệ hạ, ở thành Sāvatthi có bao nhiêu người mù bẩm sinh thì bọn họ đã được tập trung lại.’ ‘Này khanh, như thế thì người hãy phô bày con voi cho những người mù bẩm sinh.’ ‘Tâu bệ hạ, xin vâng.’ Này các tỳ khưu, người đàn ông ấy nghe theo vị vua ấy đã phô bày con voi cho những người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’
Rồi đã phô bày đầu của con voi cho một số người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’ Rồi đã phô bày cái tai của con voi cho một số người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’ Rồi đã phô bày ngà của con voi cho một số người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’ Rồi đã phô bày cái vòi của con voi cho một số người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’ Rồi đã phô bày thân của con voi cho một số người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’ Rồi đã phô bày chân của con voi cho một số người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’ Rồi đã phô bày bắp vế của con voi cho một số người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’
Rồi đã phô bày đuôi của con voi cho một số người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’ Rồi đã phô bày chùm lông đuôi của con voi cho một số người mù bẩm sinh (nói rằng): ‘Này các người mù, con voi là như thế này.’
Này các tỳ khưu, rồi người đàn ông ấy sau khi phô bày con voi cho những người mù bẩm sinh đã đi đến gặp vị vua ấy, sau khi đến đã nói với vị vua ấy điều này: ‘Tâu bệ hạ, con voi đã được những người mù ấy nhìn thấy. Xin bệ hạ hãy biết giờ này là thời điểm của việc nào.’
5. Này các tỳ khưu, sau đó vị vua ấy đã đi đến gặp những người mù bẩm sinh ấy, sau khi đến đã nói với những người mù bẩm sinh ấy điều này: ‘Này các người mù, có phải các ngươi đã thấy con voi?’ ‘Tâu bệ hạ, đúng vậy. Chúng tôi đã thấy con voi.’ ‘Này các người mù, các ngươi hãy nói con voi là như thế nào.’ Này các tỳ khưu, những người mù nào đã thấy đầu của con voi thì họ đã nói như sau: ‘Tâu bệ hạ, con voi là như thế này, giống như là cái chum.’ Này các tỳ khưu, những người mù nào đã thấy cái tai của con voi thì họ đã nói như sau: ‘Tâu bệ hạ, con voi là như thế này, giống như là cái nia.’ Này các tỳ khưu, những người mù nào đã thấy ngà của con voi thì họ đã nói như sau: ‘Tâu bệ hạ, con voi là như thế này, giống như là lưỡi cày.’ Này các tỳ khưu, những người mù nào đã thấy cái vòi của con voi thì họ đã nói như sau: ‘Tâu bệ hạ, con voi là như thế này, giống như là cán cày.’ Này các tỳ khưu, những người mù nào đã thấy thân của con voi thì họ đã nói như sau: ‘Tâu bệ hạ, con voi là như thế này, giống như là nhà kho.’ Này các tỳ khưu, những người mù nào đã thấy chân của con voi thì họ đã nói như sau: ‘Tâu bệ hạ, con voi là như thế này, giống như là cột trụ.’ Này các tỳ khưu, những người mù nào đã thấy bắp vế của con voi thì họ đã nói như sau: ‘Tâu bệ hạ, con voi là như thế này, giống như là cái cối giã.’ Này các tỳ khưu, những người mù nào đã thấy đuôi của con voi thì họ đã nói như sau: ‘Tâu bệ hạ, con voi là như thế này, giống như là cái chày.’ Này các tỳ khưu, những người mù nào đã thấy chùm lông đuôi của con voi thì họ đã nói như sau: ‘Tâu bệ hạ, con voi là như thế này, giống như là cái chổi.’ Bọn họ (đã cãi vã): ‘Con voi là như thế này, con voi là không như thế kia. Con voi là không như thế kia, con voi là như thế này,’ đã gây hấn lẫn nhau bằng những nắm đấm. Này các tỳ khưu, trái lại vị vua ấy đã thích chí vì việc ấy.
Này các tỳ khưu, tương tự y như thế các du sĩ ngoại đạo là bị mù, không có mắt (tuệ nhãn), —như trên— Pháp không phải là như thế kia, pháp là như thế này.”
6. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Quả vậy, một số Sa-môn và Bà-la-môn bám víu vào những điều này, rồi gây gổ, cãi cọ về điều ấy, (giống như) những người nhìn thấy một góc cạnh.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Các Ngoại Đạo Thứ Nhất
54. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Và vào lúc ấy, có nhiều Sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ ngoại đạo khác nhau đang cư ngụ tại Sāvatthī, họ có nhiều tà kiến, nhiều ý muốn, nhiều sở thích, và nương tựa vào nhiều nền tảng tà kiến khác nhau.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “antavā loko, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “anantavā loko, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
There were some ascetics and brahmins who had this doctrine and view: “The cosmos is eternal. This is the only truth, anything else is futile.”
Others held views such as the following, each regarding their own view as true and others as silly. “The cosmos is not eternal.”
“The cosmos is finite.”
“The cosmos is infinite.”
“The soul and the body are one and the same.”
“The soul is one thing, the body another.”
“A realized one still exists after death.”
“A realized one no longer exists after death.”
“A realized one both still exists and no longer exists after death.”
“A realized one neither still exists nor no longer exists after death.”
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’ Lại có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Thế giới là không thường hằng, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’ Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Thế giới là hữu biên, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’ Lại có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Thế giới là vô biên, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’ Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Sinh mạng và thân thể là một, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’ Lại có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’ Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’ Lại có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’ Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’ Lại có một số Sa-môn và Bà-la-môn có luận thuyết và quan điểm như sau: ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là thật, ngoài ra là rỗng không.’
Te bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti: “ediso dhammo, nediso dhammo; nediso dhammo, ediso dhammo”ti.
They were fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words: “Such is Truth, such is not Truth! Such is not Truth, such is Truth!”
Họ sống trong cãi vã, tranh chấp, rơi vào tranh luận, đâm chọc lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng: ‘Pháp là như thế này, Pháp không phải như thế này; Pháp không phải như thế này, Pháp là như thế này.’
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisiṁsu. Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Sāvatthī for alms. Then, after the meal, when they returned from almsround, they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what was happening. The Buddha said:
Khi ấy, vào buổi sáng, một số đông Tỳ khưu đắp y, mang y bát, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, sau bữa ăn, khi đã đi khất thực trở về, họ đến nơi Thế Tôn ở. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn điều này:
“Idha, bhante, sambahulā nānātitthiyasamaṇabrāhmaṇaparibbājakā sāvatthiyaṁ paṭivasanti nānādiṭṭhikā nānākhantikā nānārucikā nānādiṭṭhinissayanissitā—
“Bạch Thế Tôn, tại đây, ở Sāvatthī, có đông đảo các Sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ ngoại đạo thuộc các giáo phái khác nhau đang cư ngụ; họ có các kiến giải khác nhau, các sự chấp nhận khác nhau, các sở thích khác nhau, và nương tựa vào các sở y kiến giải khác nhau.”
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti …pe… te bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti: ‘ediso dhammo, nediso dhammo; nediso dhammo, ediso dhammo’”ti.
“Có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Thế gian là thường còn, chỉ điều này là sự thật, những thứ khác là hư vọng’... Họ nảy sinh tranh tụng, nảy sinh cãi vã, rơi vào tranh luận, sống đâm chọc lẫn nhau bằng những binh khí miệng: ‘Pháp là như thế này, pháp không phải như thế này; pháp không phải như thế này, pháp là như thế này.’”
“Aññatitthiyā, bhikkhave, paribbājakā andhā acakkhukā; atthaṁ na jānanti, anatthaṁ na jānanti, dhammaṁ na jānanti, adhammaṁ na jānanti. Te atthaṁ ajānantā anatthaṁ ajānantā dhammaṁ ajānantā adhammaṁ ajānantā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti: ‘ediso dhammo, nediso dhammo; nediso dhammo, ediso dhammo’ti.
“The wanderers of other religions are blind and sightless. They don’t understand what is beneficial or what is not beneficial, nor what is the truth and what is not the truth. That’s why they are fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words.
“Này các Tỳ khưu, các du sĩ ngoại đạo là những người mù lòa, không có mắt; họ không biết điều lợi ích, không biết điều không lợi ích, không biết Pháp, không biết phi Pháp. Họ, vì không biết điều lợi ích, không biết điều không lợi ích, không biết Pháp, không biết phi Pháp, nên sanh ra tranh cãi, sanh ra cãi vã, rơi vào tranh luận, sống đâm chọc lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng: ‘Pháp là như thế này, Pháp không phải như thế này; Pháp không phải như thế này, Pháp là như thế này.’”
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, imissāyeva sāvatthiyā aññataro rājā ahosi. Atha kho, bhikkhave, so rājā aññataraṁ purisaṁ āmantesi: ‘ehi tvaṁ, ambho purisa, yāvatakā sāvatthiyā jaccandhā te sabbe ekajjhaṁ sannipātehī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, so puriso tassa rañño paṭissutvā yāvatakā sāvatthiyā jaccandhā te sabbe gahetvā yena so rājā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ rājānaṁ etadavoca: ‘sannipātitā kho te, deva, yāvatakā sāvatthiyā jaccandhā’ti. ‘Tena hi, bhaṇe, jaccandhānaṁ hatthiṁ dassehī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, so puriso tassa rañño paṭissutvā jaccandhānaṁ hatthiṁ dassesi—
Once upon a time, mendicants, right here in Sāvatthī there was a certain king. Then the king addressed a man, ‘Please, my man, gather all those blind from birth throughout Sāvatthī and bring them together in one place.’ ‘Yes, Your Majesty,’ that man replied. He did as the king asked, then said to him, ‘Your Majesty, the blind people throughout Sāvatthī have been gathered.’ ‘Well then, lad, show them an elephant.’ ‘Yes, Your Majesty,’ that man replied. He did as the king asked.
“Này các Tỳ khưu, thuở xưa, tại chính thành Sāvatthī này, có một vị vua. Rồi, này các Tỳ khưu, vị vua ấy gọi một người đàn ông và bảo: ‘Này người kia, hãy đến đây. Ngươi hãy tập hợp tất cả những người mù bẩm sinh ở Sāvatthī lại một chỗ.’ ‘Vâng, tâu Đại vương,’ này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy vâng lời vị vua, tập hợp tất cả những người mù bẩm sinh ở Sāvatthī, rồi đi đến nơi vị vua ấy. Sau khi đến, ông ta tâu với vị vua điều này: ‘Tâu Đại vương, tất cả những người mù bẩm sinh ở Sāvatthī đã được tập hợp lại.’ ‘Vậy thì, này khanh, hãy cho những người mù bẩm sinh xem con voi.’ ‘Vâng, tâu Đại vương,’ này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy vâng lời vị vua và cho những người mù bẩm sinh xem con voi.”
Ekaccānaṁ jaccandhānaṁ hatthissa sīsaṁ dassesi: ‘ediso, jaccandhā, hatthī’ti. Ekaccānaṁ jaccandhānaṁ hatthissa kaṇṇaṁ dassesi: ‘ediso, jaccandhā, hatthī’ti. Ekaccānaṁ jaccandhānaṁ hatthissa dantaṁ dassesi: ‘ediso, jaccandhā, hatthī’ti. Ekaccānaṁ jaccandhānaṁ hatthissa soṇḍaṁ dassesi: ‘ediso, jaccandhā, hatthī’ti. Ekaccānaṁ jaccandhānaṁ hatthissa kāyaṁ dassesi: ‘ediso, jaccandhā, hatthī’ti. Ekaccānaṁ jaccandhānaṁ hatthissa pādaṁ dassesi: ‘ediso, jaccandhā, hatthī’ti. Ekaccānaṁ jaccandhānaṁ hatthissa satthiṁ dassesi: ‘ediso, jaccandhā, hatthī’ti. Ekaccānaṁ jaccandhānaṁ hatthissa naṅguṭṭhaṁ dassesi: ‘ediso, jaccandhā, hatthī’ti. Ekaccānaṁ jaccandhānaṁ hatthissa vāladhiṁ dassesi: ‘ediso, jaccandhā, hatthī’ti.
To some of the blind people he showed the elephant’s head, saying, ‘Here is the elephant.’ To some of them he showed the elephant’s ear, saying, ‘Here is the elephant.’ To some of them he showed the elephant’s tusk, saying, ‘Here is the elephant.’ To some of them he showed the elephant’s trunk, saying, ‘Here is the elephant.’ To some of them he showed the elephant’s flank, saying, ‘Here is the elephant.’ To some of them he showed the elephant’s leg, saying, ‘Here is the elephant.’ To some of them he showed the elephant’s thigh, saying, ‘Here is the elephant.’ To some of them he showed the elephant’s tail, saying, ‘Here is the elephant.’ To some of them he showed the tip of the elephant’s tail, saying, ‘Here is the elephant.’
“Ông ta cho một số người mù bẩm sinh xem đầu con voi và nói: ‘Này những người mù, con voi là như thế này.’ Ông ta cho một số người mù bẩm sinh xem tai con voi và nói: ‘Này những người mù, con voi là như thế này.’ Ông ta cho một số người mù bẩm sinh xem ngà con voi và nói: ‘Này những người mù, con voi là như thế này.’ Ông ta cho một số người mù bẩm sinh xem vòi con voi và nói: ‘Này những người mù, con voi là như thế này.’ Ông ta cho một số người mù bẩm sinh xem thân con voi và nói: ‘Này những người mù, con voi là như thế này.’ Ông ta cho một số người mù bẩm sinh xem chân con voi và nói: ‘Này những người mù, con voi là như thế này.’ Ông ta cho một số người mù bẩm sinh xem đùi con voi và nói: ‘Này những người mù, con voi là như thế này.’ Ông ta cho một số người mù bẩm sinh xem gốc đuôi con voi và nói: ‘Này những người mù, con voi là như thế này.’ Ông ta cho một số người mù bẩm sinh xem chùm lông đuôi con voi và nói: ‘Này những người mù, con voi là như thế này.’”
Atha kho, bhikkhave, so puriso jaccandhānaṁ hatthiṁ dassetvā yena so rājā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ rājānaṁ etadavoca: ‘diṭṭho kho tehi, deva, jaccandhehi hatthī; yassadāni kālaṁ maññasī’ti.
Then he approached the king and said, ‘Your Majesty, the blind people have been shown the elephant. Please go at your convenience.’
“Rồi, này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy, sau khi đã cho những người mù bẩm sinh xem con voi, liền đi đến nơi vị vua ấy. Sau khi đến, ông ta tâu với vị vua điều này: ‘Tâu Đại vương, những người mù bẩm sinh ấy đã xem con voi rồi. Bây giờ, xin Đại vương hãy định liệu thời gian cho việc Ngài cho là phải lúc.’”
Atha kho, bhikkhave, so rājā yena te jaccandhā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te jaccandhe etadavoca: ‘diṭṭho vo, jaccandhā, hatthī’ti? ‘Evaṁ, deva, diṭṭho no hatthī’ti. ‘Vadetha, jaccandhā, kīdiso hatthī’ti?
Then the king went up to the blind people and said, ‘Have you seen the elephant?’ ‘Yes, Your Majesty, we have been shown the elephant.’ ‘Then tell us, what kind of thing is an elephant?’
“Rồi, này các Tỳ khưu, vị vua ấy đi đến nơi những người mù bẩm sinh. Sau khi đến, ngài nói với những người mù bẩm sinh điều này: ‘Này những người mù, các ngươi đã xem con voi chưa?’ ‘Vâng, tâu Đại vương, chúng con đã xem con voi rồi.’ ‘Này những người mù, hãy nói xem, con voi như thế nào?’”
Yehi, bhikkhave, jaccandhehi hatthissa sīsaṁ diṭṭhaṁ ahosi, te evamāhaṁsu: ‘ediso, deva, hatthī seyyathāpi kumbho’ti.
The blind people who had been shown the elephant’s head said, ‘Your Majesty, an elephant is like a pot.’
“Này các Tỳ khưu, những người mù bẩm sinh nào đã xem đầu con voi, họ nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, con voi là như thế này, giống như cái lu.’”
Yehi, bhikkhave, jaccandhehi hatthissa kaṇṇo diṭṭho ahosi, te evamāhaṁsu: ‘ediso, deva, hatthī seyyathāpi suppo’ti.
Those who had been shown the ear said, ‘An elephant is like a winnowing fan.’
“Này các Tỳ khưu, những người mù bẩm sinh nào đã xem tai con voi, họ nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, con voi là như thế này, giống như cái nia.’”
Yehi, bhikkhave, jaccandhehi hatthissa danto diṭṭho ahosi, te evamāhaṁsu: ‘ediso, deva, hatthī seyyathāpi khīlo’ti.
Those who had been shown the tusk said, ‘An elephant is like a ploughshare.’
“Này các Tỳ khưu, những người mù bẩm sinh nào đã xem ngà con voi, họ nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, con voi là như thế này, giống như cái cọc.’”
Yehi, bhikkhave, jaccandhehi hatthissa soṇḍo diṭṭho ahosi, te evamāhaṁsu: ‘ediso, deva, hatthī seyyathāpi naṅgalīsā’ti.
Those who had been shown the trunk said, ‘An elephant is like a draft-pole.’
“Này các Tỳ khưu, những người mù bẩm sinh nào đã xem vòi con voi, họ nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, con voi là như thế này, giống như cán cày.’”
Yehi, bhikkhave, jaccandhehi hatthissa kāyo diṭṭho ahosi, te evamāhaṁsu: ‘ediso, deva, hatthī seyyathāpi koṭṭho’ti.
Those who had been shown the flank said, ‘An elephant is like a storehouse.’
“Này các Tỳ khưu, những người mù bẩm sinh nào đã xem thân con voi, họ nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, con voi là như thế này, giống như cái kho lúa.’”
Yehi, bhikkhave, jaccandhehi hatthissa pādo diṭṭho ahosi, te evamāhaṁsu: ‘ediso, deva, hatthī seyyathāpi thūṇo’ti.
Yehi, bhikkhave, jaccandhehi hatthissa satthi diṭṭho ahosi, te evamāhaṁsu:
Those who had been shown the leg said, ‘An elephant is like a pillar.’
Those who had been shown the thigh said,
“Này các Tỳ khưu, những người mù bẩm sinh nào đã xem chân con voi, họ nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, con voi là như thế này, giống như cây cột.’”
“Này các Tỳ khưu, những người mù bẩm sinh nào đã xem đùi con voi, họ nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, con voi là như thế này, giống như cái cối.’”
Yehi, bhikkhave, jaccandhehi hatthissa naṅguṭṭhaṁ diṭṭhaṁ ahosi, te evamāhaṁsu: ‘ediso, deva, hatthī seyyathāpi musalo’ti.
Those who had been shown the tail said, ‘An elephant is like a pestle.’
“Này các Tỳ khưu, những người mù bẩm sinh nào đã xem gốc đuôi con voi, họ nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, con voi là như thế này, giống như cái chày.’”
Yehi, bhikkhave, jaccandhehi hatthissa vāladhi diṭṭho ahosi, te evamāhaṁsu: ‘ediso, deva, hatthī seyyathāpi sammajjanī’ti.
Those who had been shown the tip of the tail said, ‘An elephant is like a broom.’
“Này các Tỳ khưu, những người mù bẩm sinh nào đã xem chùm lông đuôi con voi, họ nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, con voi là như thế này, giống như cái chổi.’”
Te ‘ediso hatthī, nediso hatthī; nediso hatthī, ediso hatthī’ti aññamaññaṁ muṭṭhīhi saṁsumbhiṁsu. Tena ca pana, bhikkhave, so rājā attamano ahosi.
Saying, ‘Such is an elephant, not such! Such is not an elephant, such is!’ they punched each other with their fists. At that, the king was pleased.
“Họ, với lời nói: ‘Con voi là như thế này, con voi không phải như thế này; con voi không phải như thế này, con voi là như thế này,’ đã đánh nhau bằng nắm đấm. Và do đó, này các Tỳ khưu, vị vua ấy đã hoan hỷ.”
Evamevaṁ kho, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā andhā acakkhukā. Te atthaṁ na jānanti anatthaṁ na jānanti, dhammaṁ na jānanti adhammaṁ na jānanti. Te atthaṁ ajānantā anatthaṁ ajānantā, dhammaṁ ajānantā adhammaṁ ajānantā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti: ‘ediso dhammo, nediso dhammo; nediso dhammo, ediso dhammo’”ti.
In the same way, mendicants, the wanderers of other religions are blind and sightless. They don’t understand what is beneficial or what is not beneficial, nor what is the truth and what is not the truth. That’s why they are fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words. ‘Such is Truth, such is not! Such is not Truth, such is!’”
“Này các tỳ khưu, cũng tương tự như thế, các du sĩ ngoại đạo là những kẻ mù lòa, không có mắt. Họ không biết điều lợi ích, không biết điều không lợi ích, không biết Chánh pháp, không biết phi pháp. Do không biết điều lợi ích, không biết điều không lợi ích, không biết Chánh pháp, không biết phi pháp, họ đã trở nên tranh cãi, đã trở nên cãi vã, đã rơi vào tranh luận, sống đả kích lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng: ‘Pháp là như thế này, pháp không phải như thế này; pháp không phải như thế này, pháp là như thế này.’”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Rồi, đức Thế Tôn, sau khi đã hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Imesu kira sajjanti, eke samaṇabrāhmaṇā; Viggayha naṁ vivadanti, janā ekaṅgadassino”ti.
Catutthaṁ.
“Some ascetics and brahmins, it seems, cling to these things. Arguing, they dispute, the folk who see just one part.”
“Quả thật, một số sa-môn và bà-la-môn bị dính mắc vào những điều này; những người chỉ thấy một phần, sau khi đã nắm giữ, họ tranh luận.” Hết phẩm thứ tư.