- Udāna 4.8
Sundarīsutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sundarīsutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn được tôn vinh, được cung kính, được sùng bái, được cúng dường, được nể nang, có nhận được các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Hội chúng tỳ khưu cũng được tôn vinh, được cung kính, được sùng bái, được cúng dường, được nể nang, có nhận được các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Trái lại, các du sĩ ngoại đạo không được tôn vinh, không được cung kính, không được sùng bái, không được cúng dường, không được nể nang, không nhận được các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.
2. Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo ấy không chịu đựng nỗi sự tôn vinh đối với đức Thế Tôn và đối với hội chúng tỳ khưu nên đã đi đến gặp nữ du sĩ ngoại đạo Sundarī, sau khi đến đã nói với nữ du sĩ ngoại đạo Sundarī điều này: “Này chị gái, chị có khả năng làm việc lợi ích cho thân quyến không?” “Thưa các ngài, tôi làm việc gì? Điều gì mà tôi không có thể làm? Thậm chí mạng sống tôi còn buông bỏ cho việc lợi ích của thân quyến.”
3. “Này chị gái, chính vì việc ấy chị hãy thường xuyên đi đến Jetavana.” “Thưa các ngài, xin vâng.” Nữ du sĩ ngoại đạo Sundarī nghe theo các du sĩ ngoại đạo ấy đã thường xuyên đi đến Jetavana. Đến khi các du sĩ ngoại đạo ấy đã biết rằng: “Việc nữ du sĩ ngoại đạo Sundarī thường xuyên đi đến Jetavana đã được nhiều người nhìn thấy rõ ràng,” khi ấy đã cho người đoạt lấy mạng sống của nàng rồi chôn xuống ngay tại chỗ ấy, ở cái hố của đường mương, sau đó đã đi đến gặp đức vua Pasenadi xứ Kosala, sau khi đến đã nói với đức vua Pasenadi xứ Kosala điều này: “Tâu đại vương, chúng tôi không nhìn thấy nữ du sĩ Sundarī.” “Vậy các ngươi nghi ngờ là ở đâu?” “Tâu đại vương, ở Jetavana.” “Chính vì việc ấy các ngươi hãy kiểm tra Jetavana.”
4. Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo ấy sau khi kiểm tra Jetavana đã lấy lên từ cái hố của đường mương (thi thể của nàng) theo như cách đã được chôn xuống. Sau khi đặt ở chiếc giường nhỏ, họ đã đưa vào thành Sāvatthi rồi đi từ đường lộ này đến đường lộ khác, từ giao lộ này đến giao lộ khác, và đã khích động dân chúng rằng:
“Thưa các ngài, các ngài hãy nhìn xem việc làm của các Sa-môn Thích tử. Các Sa-môn Thích tử này vô liêm sỉ, giới hạnh xấu xa, nói láo, không có Phạm hạnh. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự bình lặng, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có Sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Vì cớ gì mà người nam sau khi làm cái việc cần làm của người nam rồi lại đoạt lấy mạng sống của người nữ?”
5. Vào lúc bấy giờ, ở thành Sāvatthi dân chúng sau khi nhìn thấy các vị tỳ khưu liền sỉ vả, chê bai, khiêu khích, chọc tức bằng những lời nói không lịch sự, thô lỗ rằng: “Các Sa-môn Thích tử này vô liêm sỉ, giới hạnh xấu xa, nói láo, không có Phạm hạnh. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự bình lặng, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có Sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Vì cớ gì mà người nam sau khi làm cái việc cần làm của người nam rồi lại đoạt lấy mạng sống của người nữ?”
6. Khi ấy, vào buổi sáng nhiều vị tỳ khưu đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y đi vào thành Sāvatthi để khất thực. Sau khi đi khất thực ở thành Sāvatthi, sau bữa ăn trong khi đi khất thực trở về, đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, hiện nay ở thành Sāvatthi dân chúng sau khi nhìn thấy các vị tỳ khưu liền sỉ vả, chê bai, khiêu khích, chọc tức bằng những lời nói không lịch sự, thô lỗ rằng: ‘Các Sa-môn Thích tử này vô liêm sỉ, giới hạnh xấu xa, nói láo, không có Phạm hạnh. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự bình lặng, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có Sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Vì cớ gì mà người nam sau khi làm cái việc cần làm của người nam rồi lại đoạt lấy mạng sống của người nữ?’”
7. “Này các tỳ khưu, tiếng đồn đại ấy sẽ không tồn tại lâu, sẽ tồn tại chỉ được bảy ngày, khi trải qua bảy ngày thì sẽ biến mất. Này các tỳ khưu, chính vì việc ấy những người nào sau khi nhìn thấy các vị tỳ khưu mà sỉ vả, chê bai, khiêu khích, chọc tức bằng những lời nói không lịch sự, thô lỗ, thì các ngươi hãy quở trách họ bằng câu kệ này:
Người có lời nói không thật đi địa ngục, và luôn cả người nào sau khi làm đã nói là: ‘Tôi không làm;’ cả hai người ấy, có hành động thấp kém, sau khi chết (đọa) vào cảnh giới khác là giống như nhau.”
8. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã học thuộc lòng câu kệ ấy ở nơi đức Thế Tôn. Rồi những người nào sau khi nhìn thấy các vị tỳ khưu mà sỉ vả, chê bai, khiêu khích, chọc tức bằng những lời nói không lịch sự, thô lỗ, thì các vị tỳ khưu quở trách những người ấy bằng câu kệ này:
“Người có lời nói không thật đi địa ngục, và luôn cả người nào sau khi làm đã nói là: ‘Tôi không làm;’ cả hai người ấy, có hành động thấp kém, sau khi chết (đọa) vào cảnh giới khác là giống như nhau.”
9. Điều này đã khởi lên ở dân chúng: “Các Sa-môn Thích tử này không phải là người làm; việc đã được làm không phải do những vị này; các Sa-môn Thích tử này khẳng định.” Tiếng đồn đại ấy đã không tồn tại lâu, đã tồn tại chỉ bảy ngày, khi trải qua bảy ngày thì đã biến mất. Sau đó, nhiều vị tỳ khưu đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, thật là kỳ diệu! Bạch Ngài, thật là phi thường! Và Bạch Ngài, điều này thật sự đã được khéo nói bởi đức Thế Tôn rằng: ‘Này các tỳ khưu, tiếng đồn đại ấy sẽ không tồn tại lâu, sẽ tồn tại chỉ được bảy ngày, khi trải qua bảy ngày thì sẽ biến mất.’ Bạch Ngài, tiếng đồn đại ấy đã được biến mất.”
10. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Những người không chế ngự châm chích (người khác) bằng lời nói,
tựa như châm chích con voi tham gia chiến trận bằng những mũi tên,
sau khi nghe lời nói thô lỗ đã được thốt lên,
vị tỳ khưu nên chịu đựng, tâm không ác xấu.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Sundarī
38. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn Jetavana của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn được cung kính, trọng vọng, tôn kính, cúng dường, đảnh lễ, và nhận được các vật dụng y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Tăng chúng cũng được cung kính, trọng vọng, tôn kính, cúng dường, đảnh lễ, và nhận được các vật dụng y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Còn các du sĩ ngoại đạo thì không được cung kính, không được trọng vọng, không được tôn kính, không được cúng dường, không được đảnh lễ, và không nhận được các vật dụng y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
Atha kho te aññatitthiyā paribbājakā bhagavato sakkāraṁ asahamānā bhikkhusaṅghassa ca yena sundarī paribbājikā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sundariṁ paribbājikaṁ etadavocuṁ: “ussahasi tvaṁ, bhagini, ñātīnaṁ atthaṁ kātun”ti? “Kyāhaṁ, ayyā, karomi? Kiṁ mayā na sakkā kātuṁ? Jīvitampi me pariccattaṁ ñātīnaṁ atthāyā”ti.
Then those wanderers who followed other religions, unable to bear the esteem of the mendicant Saṅgha, approached the female wanderer Sundarī and said, “Sister, are you able to do something for the welfare of your kin?” “What can I do, masters? How can I help? I’d even give my life for the welfare of my kin.”
Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo ấy, do không thể kham nhẫn sự cung kính đối với đức Thế Tôn và Tăng chúng, đã đi đến chỗ nữ du sĩ Sundarī; sau khi đến, họ nói với nữ du sĩ Sundarī lời này: "Này chị, chị có thể làm lợi ích cho các quyến thuộc không?" "Thưa các ngài, tôi phải làm gì? Có việc gì mà tôi không thể làm được? Vì lợi ích của các quyến thuộc, ngay cả mạng sống của tôi cũng có thể từ bỏ."
“Tena hi, bhagini, abhikkhaṇaṁ jetavanaṁ gacchāhī”ti. “Evaṁ, ayyā”ti kho sundarī paribbājikā tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ paṭissutvā abhikkhaṇaṁ jetavanaṁ agamāsi.
“Well then, sister, frequently visit Jeta’s Grove.” “Yes, masters,” she replied, and did as they asked.
"Vậy thì, này chị, hãy thường xuyên đi đến Jetavana." "Vâng, thưa các ngài." Nữ du sĩ Sundarī sau khi vâng lời các du sĩ ngoại đạo ấy, đã thường xuyên đi đến Jetavana.
Yadā te aññiṁsu aññatitthiyā paribbājakā: “vodiṭṭhā kho sundarī paribbājikā bahujanena abhikkhaṇaṁ jetavanaṁ gacchantī”ti. Atha naṁ jīvitā voropetvā tattheva jetavanassa parikhākūpe nikkhipitvā yena rājā pasenadi kosalo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ etadavocuṁ: “yā sā, mahārāja, sundarī paribbājikā; sā no na dissatī”ti. “Kattha pana tumhe āsaṅkathā”ti? “Jetavane, mahārājā”ti. “Tena hi jetavanaṁ vicinathā”ti.
When those wanderers knew that Sundarī had been clearly seen by many people frequently visiting Jeta’s Grove, they killed her and dumped her in the ditch around Jeta’s Grove. Then they went to see King Pasenadi of Kosala and said to him, “Great king, we cannot find the female wanderer Sundarī.” “But where do you suspect she is?” “At Jeta’s Grove, Great King.” “Well then, search Jeta’s Grove.”
Khi các du sĩ ngoại đạo ấy biết rằng: "Nữ du sĩ Sundarī đã được nhiều người thấy thường xuyên đi đến Jetavana," khi ấy, họ đã giết cô ấy rồi vứt xác vào trong con mương của vườn Jetavana, sau đó đi đến chỗ vua Pasenadi nước Kosala; sau khi đến, họ nói với vua Pasenadi nước Kosala lời này: "Tâu đại vương, nữ du sĩ Sundarī của chúng tôi đã không còn thấy nữa." "Các ông nghi ngờ ở đâu?" "Tâu đại vương, ở Jetavana." "Vậy thì hãy tìm kiếm ở Jetavana."
Atha kho te aññatitthiyā paribbājakā jetavanaṁ vicinitvā yathānikkhittaṁ parikhākūpā uddharitvā mañcakaṁ āropetvā sāvatthiṁ pavesetvā rathiyāya rathiyaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā manusse ujjhāpesuṁ:
So the wanderers searched Jeta’s Grove. They pulled her body up from the ditch where they had dumped it, and lifted it on a bier. Having entered Sāvatthī, they went from street to street and from square to square, complaining to people:
Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi tìm kiếm ở Jetavana, đã lấy xác ra từ con mương như đã vứt, đặt lên một cái cáng, mang vào thành Sāvatthī, rồi đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, và khiến cho dân chúng phẫn nộ:
“Passathāyyā samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ kammaṁ. Alajjino ime samaṇā sakyaputtiyā dussīlā pāpadhammā musāvādino abrahmacārino. Ime hi nāma dhammacārino samacārino brahmacārino saccavādino sīlavanto kalyāṇadhammā paṭijānissanti. Natthi imesaṁ sāmaññaṁ, natthi imesaṁ brahmaññaṁ. Naṭṭhaṁ imesaṁ sāmaññaṁ, naṭṭhaṁ imesaṁ brahmaññaṁ. Kuto imesaṁ sāmaññaṁ, kuto imesaṁ brahmaññaṁ? Apagatā ime sāmaññā, apagatā ime brahmaññā. Kathañhi nāma puriso purisakiccaṁ karitvā itthiṁ jīvitā voropessatī”ti.
“See the deed of the ascetics who follow the Sakyan! Shameless are these ascetics who follow the Sakyan, immoral and wicked. They are liars and unchaste. Sure, they claim to be of principled and moral conduct, to be chaste, truthful, ethical, and of good character. But they have no asceticism, no spirituality. Asceticism and spirituality are lost to them! Where is their asceticism, where their spirituality? They have abandoned asceticism and spirituality! How on earth can a man, having done a man’s business, kill a woman!”
"Này các ngài, hãy xem việc làm của các sa-môn Thích tử! Các sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, ác giới, theo tà pháp, nói dối, không sống phạm hạnh. Vậy mà họ lại tự nhận là người sống theo Chánh pháp, sống bình đẳng, sống phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Họ không có sa-môn hạnh, họ không có phạm hạnh. Sa-môn hạnh của họ đã bị hủy hoại, phạm hạnh của họ đã bị hủy hoại. Sa-môn hạnh của họ ở đâu, phạm hạnh của họ ở đâu? Họ đã từ bỏ sa-môn hạnh, họ đã từ bỏ phạm hạnh. Làm sao một người đàn ông, sau khi làm việc của đàn ông, lại có thể giết một người phụ nữ?"
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ manussā bhikkhū disvā asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosanti paribhāsanti rosanti vihesanti:
Then at that time when the people of Sāvatthī saw the mendicants they abused and insulted them with rude, harsh words:
Vào lúc bấy giờ, ở Sāvatthī, người dân khi thấy các vị tỳ-khưu liền dùng những lời lẽ không xứng đáng, thô tục để mắng nhiếc, phỉ báng, làm phiền, và quấy nhiễu:
“Alajjino ime samaṇā sakyaputtiyā dussīlā pāpadhammā musāvādino abrahmacārino. Ime hi nāma dhammacārino samacārino brahmacārino saccavādino sīlavanto kalyāṇadhammā paṭijānissanti. Natthi imesaṁ sāmaññaṁ, natthi imesaṁ brahmaññaṁ. Naṭṭhaṁ imesaṁ sāmaññaṁ, naṭṭhaṁ imesaṁ brahmaññaṁ. Kuto imesaṁ sāmaññaṁ, kuto imesaṁ brahmaññaṁ? Apagatā ime sāmaññā, apagatā ime brahmaññā. Kathañhi nāma puriso purisakiccaṁ karitvā itthiṁ jīvitā voropessatī”ti.
“Shameless are these ascetics who follow the Sakyan, immoral, wicked. They are liars and unchaste. Sure, they claim to be of principled and moral conduct, to be chaste, truthful, ethical, and of good character. But they have no asceticism, no spirituality. Asceticism and spirituality are lost to them! Where is their asceticism, where their spirituality? They have abandoned asceticism and spirituality! How on earth can a man, having done a man’s business, kill a woman!”
"Các sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, ác giới, theo tà pháp, nói dối, không sống phạm hạnh. Vậy mà họ lại tự nhận là người sống theo Chánh pháp, sống bình đẳng, sống phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Họ không có sa-môn hạnh, họ không có phạm hạnh. Sa-môn hạnh của họ đã bị hủy hoại, phạm hạnh của họ đã bị hủy hoại. Sa-môn hạnh của họ ở đâu, phạm hạnh của họ ở đâu? Họ đã từ bỏ sa-môn hạnh, họ đã từ bỏ phạm hạnh. Làm sao một người đàn ông, sau khi làm việc của đàn ông, lại có thể giết một người phụ nữ?"
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisiṁsu. Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Sāvatthī for alms. Then, after the meal, when they returned from almsround, they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what was happening.
Khi ấy, nhiều vị tỳ-khưu vào buổi sáng, đắp y, mang theo y bát, đi vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, sau bữa ăn, trở về từ nơi khất thực, các vị ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Các vị tỳ-khưu ấy, sau khi ngồi xuống một bên, đã bạch với đức Thế Tôn lời này:
“Etarahi, bhante, sāvatthiyaṁ manussā bhikkhū disvā asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosanti paribhāsanti rosanti vihesanti: ‘alajjino ime samaṇā sakyaputtiyā dussīlā pāpadhammā musāvādino abrahmacārino. Ime hi nāma dhammacārino samacārino brahmacārino saccavādino sīlavanto kalyāṇadhammā paṭijānissanti. Natthi imesaṁ sāmaññaṁ, natthi imesaṁ brahmaññaṁ. Naṭṭhaṁ imesaṁ sāmaññaṁ, naṭṭhaṁ imesaṁ brahmaññaṁ. Kuto imesaṁ sāmaññaṁ, kuto imesaṁ brahmaññaṁ? Apagatā ime sāmaññā, apagatā ime brahmaññā. Kathañhi nāma puriso purisakiccaṁ karitvā itthiṁ jīvitā voropessatī’”ti.
"Bạch Thế Tôn, hiện nay, ở Sāvatthī, người dân khi thấy các vị tỳ-khưu liền dùng những lời lẽ không xứng đáng, thô tục để mắng nhiếc, phỉ báng, làm phiền, và quấy nhiễu: 'Các sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, ác giới, theo tà pháp, nói dối, không sống phạm hạnh. Vậy mà họ lại tự nhận là người sống theo Chánh pháp, sống bình đẳng, sống phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Họ không có sa-môn hạnh, họ không có phạm hạnh. Sa-môn hạnh của họ đã bị hủy hoại, phạm hạnh của họ đã bị hủy hoại. Sa-môn hạnh của họ ở đâu, phạm hạnh của họ ở đâu? Họ đã từ bỏ sa-môn hạnh, họ đã từ bỏ phạm hạnh. Làm sao một người đàn ông, sau khi làm việc của đàn ông, lại có thể giết một người phụ nữ?'"
“Neso, bhikkhave, saddo ciraṁ bhavissati sattāhameva bhavissati. Sattāhassa accayena antaradhāyissati. Tena hi, bhikkhave, ye manussā bhikkhū disvā asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosanti paribhāsanti rosanti vihesanti, te tumhe imāya gāthāya paṭicodetha:
“That rumor, mendicants, won’t last long. It will only be seven days, then it will vanish. So you may respond to those critics with this verse:
"Này các tỳ-khưu, tiếng ồn này sẽ không kéo dài, nó sẽ chỉ tồn tại trong bảy ngày. Sau bảy ngày, nó sẽ biến mất. Vậy thì, này các tỳ-khưu, những người nào khi thấy các vị tỳ-khưu liền dùng những lời lẽ không xứng đáng, thô tục để mắng nhiếc, phỉ báng, làm phiền, và quấy nhiễu, các con hãy dùng bài kệ này để phản bác lại họ:
‘Abhūtavādī nirayaṁ upeti, Yo vāpi katvā na karomi cāha; Ubhopi te pecca samā bhavanti, Nihīnakammā manujā paratthā’”ti.
A liar goes to hell, as does one who denies what they did. Both are equal in the hereafter, those men of base deeds.”
"'Người nói lời không thật sẽ đi đến địa ngục, và cả người đã làm (việc ác) mà lại nói 'tôi không làm'. Cả hai người ấy, là những người có hành vi thấp hèn, sau khi chết, ở đời sau, đều như nhau.'"
Atha kho te bhikkhū bhagavato santike imaṁ gāthaṁ pariyāpuṇitvā ye manussā bhikkhū disvā asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosanti paribhāsanti rosanti vihesanti te imāya gāthāya paṭicodenti:
The mendicants memorized that verse in the Buddha’s presence, then used it to respond to those critics.
Bấy giờ, các vị Tỳ khưu ấy, sau khi học thuộc lòng bài kệ này nơi đức Thế Tôn, đã dùng bài kệ này để phản bác lại những người mà khi thấy các vị Tỳ khưu đã mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, hãm hại bằng những lời lẽ không xứng đáng của bậc thiện nhân, thô lỗ.
“Abhūtavādī nirayaṁ upeti, Yo vāpi katvā na karomi cāha; Ubhopi te pecca samā bhavanti, Nihīnakammā manujā paratthā”ti.
“Người nói lời không thật, sẽ đi đến địa ngục. Và người nào đã làm việc ác mà nói rằng: ‘Tôi không làm’. Cả hai người ấy, là những người có hành vi hạ liệt, sau khi chết, sẽ trở thành giống nhau ở thế giới bên kia (cùng sanh vào địa ngục).”
Manussānaṁ etadahosi: “akārakā ime samaṇā sakyaputtiyā, nayimehi kataṁ, sapantime samaṇā sakyaputtiyā”ti. Neva so saddo ciraṁ ahosi. Sattāhameva ahosi. Sattāhassa accayena antaradhāyi.
People thought, “These ascetics who follow the Sakyan didn’t do it, it was not done by them, they swear it.” That rumor didn’t last long. It was seven days, then it vanished.
Những người dân đã có ý nghĩ này: “Các vị Sa-môn Thích tử này không phải là người làm. Việc này không phải do các vị ấy làm. Các vị Sa-môn Thích tử này đang nguyền rủa.” Tiếng đồn ấy đã không tồn tại lâu. Nó chỉ tồn tại trong bảy ngày. Sau khi bảy ngày trôi qua, nó đã biến mất.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavato etadavocuṁ:
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bấy giờ, đông đảo các vị Tỳ khưu đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị Tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này:
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāva subhāsitañcidaṁ, bhante, bhagavatā: ‘neso, bhikkhave, saddo ciraṁ bhavissati. Sattāhameva bhavissati. Sattāhassa accayena antaradhāyissatī’ti. Antarahito so, bhante, saddo”ti.
“It’s incredible, sir, it’s amazing! How well said this was by the Buddha: ‘That rumor, mendicants, won’t last long. It will only be seven days, then it will vanish.’ That rumor has vanished, sir.”
“Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Lời này đã được đức Thế Tôn khéo nói biết bao, bạch Thế Tôn: ‘Này các Tỳ khưu, tiếng đồn ấy sẽ không tồn tại lâu. Nó sẽ chỉ tồn tại trong bảy ngày. Sau khi bảy ngày trôi qua, nó sẽ biến mất.’ Bạch Thế Tôn, tiếng đồn ấy đã biến mất rồi.”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi biết rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Tudanti vācāya janā asaññatā, Sarehi saṅgāmagataṁva kuñjaraṁ; Sutvāna vākyaṁ pharusaṁ udīritaṁ, Adhivāsaye bhikkhu aduṭṭhacitto”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“People out of control stab with words, like they stab a tusker in battle with darts. When they hear a harsh word spoken, a mendicant should endure with no anger in heart.”
“Những người không tự chủ dùng lời nói để đâm chọc, như con voi lâm trận bị (đâm chọc) bằng các mũi tên. Sau khi nghe lời nói thô lỗ được thốt ra, vị Tỳ khưu với tâm không sân hận nên kham nhẫn.” Hết bài kinh thứ tám.