- Udāna 3.1
Kammavipākajasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kammavipākajasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ngồi ở nơi không xa đức Thế Tôn, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, đang chịu đựng cảm thọ khổ đau, xót xa, nhức nhối, khốc liệt, sanh ra do quả thành tựu của nghiệp cũ, có niệm, có sự nhận biết rõ, không sầu khổ.
2. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy ngồi ở nơi không xa, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, đang chịu đựng cảm thọ khổ đau, xót xa, nhức nhối, khốc liệt, sanh ra do quả thành tựu của nghiệp cũ, có niệm, có sự nhận biết rõ, không sầu khổ.
3. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Đối với vị tỳ khưu có sự từ bỏ tất cả các nghiệp, đang giũ bỏ bụi bặm (ô nhiễm) đã được tạo ra trước đây, không sở hữu, đã đứng vững, tự tại, thì nhu cầu chuyện vãn với người là không có.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Quả Dị Tùy Của Nghiệp
21. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Và vào lúc ấy, có một vị tỳ-khưu nào đó đang ngồi không xa đức Thế Tôn, trong tư thế kiết-già, giữ thân ngay thẳng, đang chịu đựng cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, khốc liệt, là quả của nghiệp cũ, với chánh niệm, tỉnh giác, không bị phiền não.
Addasā kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ avidūre nisinnaṁ pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya purāṇakammavipākajaṁ dukkhaṁ tibbaṁ kharaṁ kaṭukaṁ vedanaṁ adhivāsentaṁ sataṁ sampajānaṁ avihaññamānaṁ.
The Buddha saw him meditating and enduring that pain.
Đức Thế Tôn đã thấy vị tỳ-khưu ấy đang ngồi không xa, trong tư thế kiết-già, giữ thân ngay thẳng, đang chịu đựng cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, khốc liệt, là quả của nghiệp cũ, với chánh niệm, tỉnh giác, không bị phiền não.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Sabbakammajahassa bhikkhuno, Dhunamānassa pure kataṁ rajaṁ; Amamassa ṭhitassa tādino, Attho natthi janaṁ lapetave”ti.
Paṭhamaṁ.
“A mendicant who has left all deeds behind, shaking off the dust of past deeds, unselfish, steady, unaffected, has no need to complain.”
“Vị tỳ-khưu đã từ bỏ mọi nghiệp, Đang rũ sạch bụi bẩn đã tạo trong quá khứ; Vị ấy không còn chấp ‘của tôi’, đã an trú, vững vàng, Không còn có nhu cầu nói chuyện với người đời.” (Kinh số một)