- Udāna 2.10
Bhaddiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Bhaddiyasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Anupiyā, nơi Ambavana (rừng xoài). Vào lúc bấy giờ, đại đức Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng vẫn nhiều lần thốt lên lời cảm hứng rằng: “Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!” Nhiều vị tỳ khưu đã nghe được đại đức Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng vẫn nhiều lần thốt lên lời cảm hứng rằng: “Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!” Sau khi nghe được, các vị ấy đã khởi ý rằng: “Chắc chắn rằng đại đức Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā không thỏa thích thực hành Phạm hạnh, là việc trong khi hồi tưởng lại sự khoái lạc vương giả trước đây, vị ấy mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng đã nhiều lần thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’”
2. Sau đó, nhiều vị tỳ khưu đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, đại đức Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng vẫn nhiều lần thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’ Bạch Ngài, chắc chắn rằng đại đức Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā không thỏa thích thực hành Phạm hạnh, là việc trong khi hồi tưởng lại sự khoái lạc vương giả trước đây, vị ấy mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng vẫn nhiều lần thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’”
3, Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo một vị tỳ khưu khác rằng: “Này tỳ khưu, hãy lại đây. Ngươi hãy bảo tỳ khưu Bhaddiya với lời nói của Ta rằng: ‘Này đại đức Bhaddiya, bậc Đạo Sư gọi đại đức.’”
“Bạch Ngài, xin vâng.” Vị tỳ khưu ấy nghe theo đức Thế Tôn đã đi đến gặp đại đức Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā, sau khi đến đã nói với đại đức Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā điều này: “Này đại đức Bhaddiya, bậc Đạo Sư gọi đại đức.”
“Này đại đức, xin vâng.” Đại đức Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā nghe theo vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp đức Thế tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi vị ấy đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā điều này: “Này Bhaddiya, nghe nói ngươi mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng vẫn nhiều lần thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’ có đúng không vậy?” “Bạch Ngài, đúng vậy.” “Này Bhaddiya con trai của Kāḷigodhā, trong khi cảm nhận được lợi ích gì khiến ngươi mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng, vẫn nhiều lần thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’ vậy?”
“Bạch Ngài, trước đây khi con còn là người thế tục đang cai quản vương quốc, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên trong hậu cung, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên ngoài hậu cung, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên trong thành phố, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên ngoài thành phố, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên trong xứ sở, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên ngoài xứ sở, bạch Ngài, trong khi được bảo vệ và được an toàn như vậy, con đây sống vẫn cảm thấy sợ hãi, khiếp đảm, lo âu, hồi hộp. Bạch Ngài, thế mà giờ đây con mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng, một mình, vẫn không sợ hãi, không khiếp đảm, không lo âu, không hồi hộp, vô tư lự, điềm tĩnh, tùy thuận sự bố thí của người khác, sống với tâm như loài thú rừng. Bạch Ngài, trong khi cảm nhận được lợi ích này nên con mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng, vẫn nhiều lần thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’”
4. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Đối với người nào mà các sự bực tức không hiện diện ở trong tâm, đã vượt qua khỏi hữu và phi hữu như thế, vị ấy đã không còn sự sợ hãi, có sự an lạc, không sầu muộn, chư Thiên không đạt được việc nhìn thấy vị ấy.”
Phẩm Mucalinda là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Bhaddiya
20. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Anupiyā, tại khu rừng xoài. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷīgodhā, dù đi đến khu rừng, dù đi đến gốc cây, dù đi đến ngôi nhà trống, cũng thường xuyên thốt lên lời cảm hứng: “Ôi, hạnh phúc thay! Ôi, hạnh phúc thay!”
Assosuṁ kho sambahulā bhikkhū āyasmato bhaddiyassa kāḷīgodhāya puttassa araññagatassapi rukkhamūlagatassapi suññāgāragatassapi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānentassa: “aho sukhaṁ, aho sukhan”ti. Sutvāna nesaṁ etadahosi: “nissaṁsayaṁ kho, āvuso, āyasmā bhaddiyo kāḷīgodhāya putto anabhirato brahmacariyaṁ carati,
Several mendicants heard him and thought, “Without a doubt, Venerable Bhaddiya leads the spiritual life dissatisfied.
Nhiều vị tỳ-khưu đã nghe trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷīgodhā, dù đang ở trong rừng, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở tại nơi vắng vẻ, thường xuyên thốt lên lời cảm hứng: “Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!” Sau khi nghe, họ đã có suy nghĩ này: “Này chư hiền, chắc chắn rằng trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷīgodhā, đang thực hành phạm hạnh mà không có sự hoan hỷ. Vị ấy, trong khi nhớ lại niềm vui vương giả lúc trước khi còn là người tại gia, nên dù đang ở trong rừng, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở tại nơi vắng vẻ, đã thường xuyên thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!’”
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “āyasmā, bhante, bhaddiyo kāḷīgodhāya putto araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesi: ‘aho sukhaṁ, aho sukhan’ti. Nissaṁsayaṁ kho, bhante, āyasmā bhaddiyo kāḷīgodhāya putto anabhirato brahmacariyaṁ carati. Yaṁsa pubbe agāriyabhūtassa rajjasukhaṁ, so tamanussaramāno araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesi: ‘aho sukhaṁ, aho sukhan’”ti.
Then those mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what was happening.
Rồi nhiều vị tỳ-khưu đi đến nơi đức Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, các vị tỳ-khưu ấy bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷīgodhā, dù đang ở trong rừng, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở tại nơi vắng vẻ, thường xuyên thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!’ Bạch ngài, chắc chắn rằng trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷīgodhā, đang thực hành phạm hạnh mà không có sự hoan hỷ. Vị ấy, trong khi nhớ lại niềm vui vương giả lúc trước khi còn là người tại gia, nên dù đang ở trong rừng, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở tại nơi vắng vẻ, đã thường xuyên thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!’”
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena bhaddiyaṁ bhikkhuṁ āmantehi: ‘satthā taṁ, āvuso bhaddiya, āmantetī’”ti.
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell the mendicant Bhaddiya that the Teacher summons him.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi một vị tỳ-khưu nào đó: “Này tỳ-khưu, hãy đến đây, ngươi hãy nhân danh ta mà gọi tỳ-khưu Bhaddiya: ‘Này hiền giả Bhaddiya, bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.’”
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā bhaddiyo kāḷīgodhāya putto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhaddiyaṁ kāḷīgodhāya puttaṁ etadavoca: “satthā taṁ, āvuso bhaddiya, āmantetī”ti. “Evamāvuso”ti kho āyasmā bhaddiyo kāḷīgodhāya putto tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ bhaddiyaṁ kāḷīgodhāya puttaṁ bhagavā etadavoca:
“Yes, sir,” that monk replied. He went to Bhaddiya and said to him, “Reverend Bhaddiya, the Teacher summons you.” “Yes, reverend,” Bhaddiya replied. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Xin vâng, bạch ngài.” Vị tỳ-khưu ấy vâng lời đức Thế Tôn rồi đi đến chỗ trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷīgodhā. Sau khi đến, vị ấy nói với trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷīgodhā, điều này: “Này hiền giả Bhaddiya, bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.” “Xin vâng, hiền giả.” Trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷīgodhā, đã vâng lời vị tỳ-khưu ấy rồi đi đến nơi đức Thế Tôn. Sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã nói điều này với trưởng lão Bhaddiya, con trai của bà Kāḷīgodhā, đang ngồi một bên:
“Saccaṁ kira tvaṁ, bhaddiya, araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesi: ‘aho sukhaṁ, aho sukhan’”ti. “Evaṁ, bhante”ti.
“Is it really true, Bhaddiya, that even in the wilderness, at the foot of a tree, or in an empty dwelling, you frequently express this heartfelt sentiment: ‘Oh, what bliss! Oh, what bliss!’?” “Yes, sir.”
“Này Bhaddiya, có thật là ngươi, dù đang ở trong rừng, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở tại nơi vắng vẻ, đã thường xuyên thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!’ không?” “Dạ, đúng vậy, bạch ngài.”
“Kiṁ pana tvaṁ, bhaddiya, atthavasaṁ sampassamāno araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesi: ‘aho sukhaṁ, aho sukhan’”ti. “Pubbe me, bhante, agāriyabhūtassa rajjaṁ kārentassa antopi antepure rakkhā susaṁvihitā ahosi, bahipi antepure rakkhā susaṁvihitā ahosi, antopi nagare rakkhā susaṁvihitā ahosi, bahipi nagare rakkhā susaṁvihitā ahosi, antopi janapade rakkhā susaṁvihitā ahosi, bahipi janapade rakkhā susaṁvihitā ahosi. So kho ahaṁ, bhante, evaṁ rakkhito gopito santo bhīto ubbiggo ussaṅkī utrāsī vihāsiṁ. Etarahi kho panāhaṁ, bhante, araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi eko abhīto anubbiggo anussaṅkī anutrāsī appossukko pannalomo paradattavutto, migabhūtena cetasā viharāmi. Imaṁ kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesiṁ: ‘aho sukhaṁ, aho sukhan’”ti.
“But why do you say this?” “Formerly, as a layperson ruling the land, my guard was well organized within and without the royal compound, within and without the city, and within and without the country. But although I was guarded and defended in this way, I remained fearful, scared, suspicious, and nervous. But these days, even when alone in the wilderness, at the foot of a tree, or in an empty dwelling, I’m not fearful, scared, suspicious, or nervous. I live relaxed, unruffled, surviving on charity, my heart free as a wild deer. It is for this reason that, even in the wilderness, at the foot of a tree, or in an empty dwelling, I frequently expressed this heartfelt sentiment: ‘Oh, what bliss! Oh, what bliss!’”
“Này Bhaddiya, nhưng do thấy được lợi ích gì mà ngươi, dù đang ở trong rừng, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở tại nơi vắng vẻ, đã thường xuyên thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!’?” “Bạch ngài, trước đây, khi con còn là người tại gia đang trị vì vương quốc, việc canh gác đã được sắp đặt chu đáo cho con ở cả bên trong và bên ngoài nội cung, ở cả bên trong và bên ngoài thành phố, ở cả bên trong và bên ngoài xứ sở. Bạch ngài, con đây, dù được canh gác, bảo vệ như vậy, vẫn sống trong sợ hãi, kinh động, nghi ngờ, và khiếp đảm. Nhưng bây giờ, bạch ngài, dù đang ở trong rừng, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở tại nơi vắng vẻ, con sống một mình, không sợ hãi, không kinh động, không nghi ngờ, không khiếp đảm, không lo âu, không dựng tóc gáy, sống bằng vật thực do người khác dâng cúng, với tâm như loài nai. Bạch ngài, do thấy được lợi ích này mà con, dù đang ở trong rừng, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở tại nơi vắng vẻ, đã thường xuyên thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!’”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Yassantarato na santi kopā, Itibhavābhavatañca vītivatto; Taṁ vigatabhayaṁ sukhiṁ asokaṁ, Devā nānubhavanti dassanāyā”ti.
Dasamaṁ.
“They who hide no anger within, passed beyond any kind of existence; happy, free from fear and sorrow—even the gods can’t see them.”
“Vị nào bên trong không còn các sân hận, Đã vượt qua sự hiện hữu và không hiện hữu này; Vị ấy, không còn sợ hãi, được an lạc, không sầu muộn, Chư Thiên cũng không thể nào thấy được.” (Kinh số mười)
Mucalindavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Mucalinda, phẩm thứ hai, đã kết thúc.
Mucalindo rājā daṇḍena, sakkāro upāsakena ca; Gabbhinī ekaputto ca, suppavāsā visākhā ca; Kāḷīgodhāya bhaddiyoti.
Mucalinda, Rājā, và Daṇḍa, Sakkāra và Upāsaka; Gabbhinī và Ekaputta, Suppavāsā và Visākhā; và Kāḷīgodhāya Bhaddiya.