- Udāna 2.5
Upāsakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Upāsakasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, có nam cư sĩ nọ người làng Icchānaṅgala đã đi đến thành Sāvatthi vì công việc cần làm nào đó. Khi ấy, nam cư sĩ ấy sau khi giải quyết xong công việc cần làm ấy ở Sāvatthi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi vị ấy đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã nói với nam cư sĩ ấy điều này: “Này nam cư sĩ, đã lâu lắm ngươi mới tạo được cơ hội này, tức là việc đi đến đây.”
“Bạch Ngài, từ lâu nay con có ước muốn đi đến để diện kiến đức Thế Tôn, tuy nhiên con bị bận rộn với những công việc cần làm này nọ. Bởi vậy, con đã không thể đi đến để diện kiến đức Thế Tôn được.”
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Quả thật là hạnh phúc cho vị ấy, bậc không sở hữu gì, có Pháp đã được thành tựu, có sự nghe nhiều. Hãy nhìn xem người có sở hữu gì đó đang bị sầu khổ; con người có tình trạng bị trói buộc vào người (khác).”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Cư Sĩ
15. Tôi nghe như vầy—Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, một vị cư sĩ người làng Icchānaṅgala đã đến Sāvatthī vì một công việc nào đó. Sau khi vị cư sĩ ấy giải quyết xong công việc ở Sāvatthī, liền đi đến yết kiến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vị cư sĩ đang ngồi một bên như sau: “Này cư sĩ, đã lâu lắm rồi ông mới có dịp đến đây.”
“Cirapaṭikāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamitukāmo, api cāhaṁ kehici kehici kiccakaraṇīyehi byāvaṭo. Evāhaṁ nāsakkhiṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamitun”ti.
“For a long time I’ve wanted to come and see the Buddha, but I wasn’t able, being prevented by my many duties and responsibilities.”
“Bạch Thế Tôn, đã từ lâu con muốn đến yết kiến Thế Tôn, nhưng vì bận rộn với các công việc này kia, nên con đã không thể đến yết kiến Thế Tôn được.”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa sự việc, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Sukhaṁ vata tassa na hoti kiñci, Saṅkhātadhammassa bahussutassa; Sakiñcanaṁ passa vihaññamānaṁ, Jano janasmiṁ paṭibandharūpo”ti.
Pañcamaṁ.
“One who has nothing is happy indeed, a learned person who has appraised the teaching. See how troubled are those with attachments, a person bound tight to people.”
“Hạnh phúc thay cho người không còn gì vướng bận, bậc đa văn đã thấu suốt các pháp. Hãy nhìn kẻ còn vướng bận bị phiền não, người đời ràng buộc lẫn nhau.” Thứ năm.