- Udāna 2.4
Sakkārasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sakkārasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
2. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn được tôn vinh, được cung kính, được sùng bái, được cúng dường, được nể nang, có nhận được các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Hội chúng tỳ khưu cũng được tôn vinh, được cung kính, được sùng bái, được cúng dường, được nể nang, có nhận được các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.
Trái lại, các du sĩ ngoại đạo không được tôn vinh, không được cung kính, không được sùng bái, không được cúng dường, không được nể nang, không có nhận được các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo ấy không chịu đựng được sự tôn vinh đối với đức Thế Tôn và hội chúng tỳ khưu; sau khi nhìn thấy các vị tỳ khưu ở làng và ở rừng, họ sỉ vả, chê bai, khiêu khích, chọc tức bằng các lời nói không lịch sự, thô lỗ.
3. Sau đó, nhiều vị tỳ khưu đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
“Bạch Ngài, hiện nay đức Thế Tôn được tôn vinh, được cung kính, được sùng bái, được cúng dường, được nể nang, có nhận được các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Hội chúng tỳ khưu cũng được tôn vinh, được cung kính, được sùng bái, được cúng dường, được nể nang, có nhận được các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Trái lại, các du sĩ ngoại đạo không được tôn vinh, không được cung kính, không được sùng bái, không được cúng dường, không được nể nang, không có nhận được các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo ấy không chịu đựng được sự tôn vinh đối với đức Thế Tôn và hội chúng tỳ khưu; sau khi nhìn thấy các vị tỳ khưu ở làng và ở rừng, họ sỉ vả, chê bai, khiêu khích, chọc tức bằng các lời nói không lịch sự, thô lỗ.”
4. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Ở làng, ở rừng, kẻ bị tiếp xúc với lạc và khổ không nên đổ thừa cho bản thân hoặc cho người khác. Các xúc chạm đến tùy theo sự bám víu; đối với người không còn bám víu thì các xúc có thể chạm đến bằng cách nào?”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Cung Kính
14. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika tại Jetavana. Vào lúc ấy, đức Thế Tôn được cung kính, trọng vọng, tôn kính, cúng dường, và tôn trọng; ngài nhận được y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Tăng đoàn tỳ khưu cũng được cung kính, trọng vọng, tôn kính, cúng dường, và tôn trọng; họ nhận được y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Nhưng các du sĩ ngoại đạo thì không được cung kính, không được trọng vọng, không được tôn kính, không được cúng dường, không được tôn trọng; họ không nhận được y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy, không thể chịu đựng được sự cung kính dành cho đức Thế Tôn và tăng đoàn tỳ khưu, khi thấy các tỳ khưu trong làng hay trong rừng, họ đã mắng nhiếc, lăng mạ, chọc tức, và quấy nhiễu bằng những lời lẽ không xứng đáng và thô lỗ.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “etarahi, bhante, bhagavā sakkato garukato mānito pūjito apacito, lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ. Bhikkhusaṅghopi sakkato garukato mānito pūjito apacito, lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ. Aññatitthiyā pana paribbājakā asakkatā agarukatā amānitā apūjitā anapacitā, na lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ. Atha kho te, bhante, aññatitthiyā paribbājakā bhagavato sakkāraṁ asahamānā bhikkhusaṅghassa ca, gāme ca araññe ca bhikkhū disvā asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosanti paribhāsanti rosenti vihesantī”ti.
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Rồi một số đông tỳ khưu đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy bạch với đức Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, hiện nay, đức Thế Tôn được cung kính, trọng vọng, tôn kính, cúng dường, và tôn trọng; ngài nhận được y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Tăng đoàn tỳ khưu cũng được cung kính, trọng vọng, tôn kính, cúng dường, và tôn trọng; họ nhận được y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Nhưng các du sĩ ngoại đạo thì không được cung kính, không được trọng vọng, không được tôn kính, không được cúng dường, không được tôn trọng; họ không nhận được y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Bạch Thế Tôn, rồi các du sĩ ngoại đạo ấy, không thể chịu đựng được sự cung kính dành cho đức Thế Tôn và tăng đoàn tỳ khưu, khi thấy các tỳ khưu trong làng hay trong rừng, họ đã mắng nhiếc, lăng mạ, chọc tức, và quấy nhiễu bằng những lời lẽ không xứng đáng và thô lỗ.’
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Rồi đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Gāme araññe sukhadukkhaphuṭṭho, Nevattato no parato dahetha; Phusanti phassā upadhiṁ paṭicca, Nirūpadhiṁ kena phuseyyu phassā”ti.
Catutthaṁ.
“When struck by pleasure and pain <j>in the village or wilderness, regard it not as self or alien. Contacts strike because of attachment; how would contacts strike one free of attachment?”
“Dù ở làng mạc hay chốn rừng sâu, khi bị lạc khổ chạm đến, chớ nên quy kết cho tự ngã hay cho người khác. Các xúc chạm đến là do duyên nơi chấp thủ. Với người không còn chấp thủ, các xúc làm sao chạm đến được?” Thứ tư.