Bản dịch
THI -ap10 — Ký Sự về Udakadāyikā
Udakadāyikātherīapadāna
BJT 116Ở thành phố Bandhumatī, tôi đã là cô gái đội nước. Tôi sống nhờ vào việc đội nước. Nhờ vào việc ấy, tôi nuôi dưỡng các đứa trẻ.
BJT 117Và tôi không có gì xứng đáng để dâng cúng đến phước điền vô thượng. Tôi đã đi đến bể chứa và đã cung cấp nước.
BJT 118Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. Ở nơi ấy, có cung điện đã được kiến tạo khéo léo, đã được hóa hiện ra dành cho tôi do (công đức của) việc đội nước.
BJT 119Khi ấy, chính tôi là người đứng đầu của một ngàn tiên nữ, tôi luôn luôn cai quản tất cả các nàng ấy cùng với mười khu vực.
BJT 120Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của năm mươi vị Thiên Vương. Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của hai mươi đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 121Tôi (đã) luân hồi trong hai cảnh giới, ở bản thể chư Thiên và nhân loại. Tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc bố thí nước.
BJT 122Cho dù ở đỉnh núi hoặc ở ngọn cây, ở trên không trung và ở trên mặt đất, khi nào tôi ước muốn về nước thì tôi đạt được ngay lập tức.
BJT 123Không có phương nào là không có mưa, và không bị nóng bức hoặc bị thiêu đốt; sau khi biết được ý định của tôi đám mây lớn (sẽ) đổ mưa xuống.
BJT 124Lúc bấy giờ, vào một lần nào đó trong khi tôi được tập thể quyến thuộc dẫn đi, khi nào tôi muốn mưa thì khi ấy đám mây lớn đổ mưa xuống.
BJT 125Sự nóng nực hoặc bực bội không được biết đến ở cơ thể của tôi, và bụi bặm không có ở trên thân thể của tôi; điều này là quả báu của việc bố thí nước.
BJT 126Hiện nay, do tâm ý thanh tịnh, các ác pháp đã lìa, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 127Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc bố thí nước.
BJT 128Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 129Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 130Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Udakadāyikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Udakadāyikā là phần thứ mười.
TÓM LƯỢC CỦA PHẨM NÀY:
Vị ni Sumedhā, cô gái dâng dây nịt, dâng cúng mái che, và con đường đi, cô gái có tràng hoa sậy, cô gái thí vật thực, muỗng (thức ăn), và cô gái dâng cúng đóa sen xanh, cô gái dâng các ngọn đèn, và luôn cả cô gái bố thí nước. Các câu kệ ngôn đã được tính đếm ở đây là một trăm câu kệ ngôn và ba mươi câu thêm vào đó nữa.
Phẩm Sumedhā là phẩm thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Accharānaṃ sahassassa, ahañhi pavarā tadā;
Dasaṭṭhānehi tā sabbā, abhibhomi sadā ahaṃ.
“I was then the foremost among a thousand celestial nymphs; I always surpassed them all in ten respects.”
Khi ấy, giữa một ngàn tiên nữ, tôi là người vượt trội nhất. Tôi luôn luôn vượt hơn tất cả các vị ấy về mười phương diện.
120.
120.
120.
‘‘Paññāsaṃ devarājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ;
Vīsaticakkavattīnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
“I acted as the chief queen of fifty kings of the gods; I acted as the chief queen of twenty wheel-turning monarchs.”
Tôi đã làm chánh hậu của năm mươi vị thiên chủ. Tôi đã làm chánh hậu của hai mươi vị Chuyển Luân Vương.
121.
121.
121.
‘‘Duve bhave saṃsarāmi, devatte atha mānuse;
Duggatiṃ nābhijānāmi, dakadānassidaṃ phalaṃ.
“I have transmigrated in two states of existence, the divine and the human. I do not know of any woeful destination; this is the fruit of the gift of water.”
Tôi đã luân hồi trong hai cảnh giới, cõi trời và cõi người. Tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc bố thí nước.
122.
122.
122.
‘‘Pabbatagge dumagge vā, antalikkhe ca bhūmiyaṃ;
Yadā udakamicchāmi, khippaṃ paṭilabhāmahaṃ.
“Whether on a mountain peak or a treetop, in the sky or on the ground, whenever I wish for water, I obtain it immediately.”
Dù ở trên đỉnh núi, hay ở trên ngọn cây, hoặc ở giữa không trung, hoặc ở trên mặt đất, bất cứ khi nào tôi mong muốn có nước, tôi liền có được ngay lập tức.
123.
123.
123.
‘‘Avuṭṭhikā disā natthi, santattā kuthitāpi † ca;
Mama saṅkappamaññāya, mahāmegho pavassati.
“There is no region without rain, nor any that is scorched and seething. Knowing my intention, a great cloud pours down rain.”
Đối với tôi, không có phương hướng nào là không có mưa, cũng không có nơi nào bị thiêu đốt hay sôi sục. Sau khi biết được ý muốn của tôi, đám mây lớn liền trút mưa xuống.
124.
124.
124.
‘‘Kadāci nīyamānāya, ñātisaṅghena me tadā;
Yadā icchāmahaṃ vassaṃ, mahāmegho ajāyatha.
“Once, when I was being led by my assembly of relatives, whenever I wished for rain, a great cloud would arise.
“Vào lúc bấy giờ, có đôi khi được hội chúng bà con dẫn đi; khi nào tôi mong muốn có mưa, thì mây lớn liền khởi lên.”
125.
125.
125.
‘‘Uṇhaṃ vā pariḷāho vā, sarīre me na vijjati;
Kāye ca me rajo natthi, dakadānassidaṃ phalaṃ.
“Neither heat nor burning fever is found in my body, and there is no dust on my body; this is the fruit of the gift of water.
“Sự nóng nực hay sự thiêu đốt không có ở trong thân của tôi. Và bụi bặm không có ở trên thân của tôi. Đây là quả của việc cúng dường nước.”
126.
126.
126.
‘‘Visuddhamanasā ajja, apetamanapāpikā;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
“Today, with a purified mind, free from evil thoughts, all my taints are completely destroyed. Now there is no more rebirth.
“Hôm nay, với tâm thanh tịnh, đã xa lìa tâm ý xấu xa, đã đoạn tận tất cả lậu hoặc, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
127.
127.
127.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ dakaṃ adadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, dakadānassidaṃ phalaṃ.
“In the ninety-first aeon from this one, I gave that water. I have not known a woeful destination since; this is the fruit of the gift of water.
“Cách đây chín mươi mốt kiếp, vào lúc bấy giờ tôi đã cúng dường nước nào; (kể từ đó) tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc cúng dường nước.”
128.
128.
128.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
“My defilements are burned up … I dwell free of taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy ... (vân vân) ... tôi sống không còn lậu hoặc.”
129.
129.
129.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Indeed, my coming was a good one … the Buddha’s teaching has been done.
“Sự đến của tôi quả là khéo đến ... (vân vân) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
130.
130.
130.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges … the Buddha’s teaching has been done.”
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (vân vân) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ udakadāyikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Udakadāyikā spoke these verses.
Như vậy, quả thật tỳ-khưu-ni Udakadāyikā đã nói những câu kệ này.
Udakadāyikātheriyāpadānaṃ dasamaṃ.
The Apadāna of the Elder Nun Udakadāyikā, the Tenth.
Thiên truyện về Trưởng lão ni Udakadāyikā, phần thứ mười.
The Sumedhā Chapter, the First.
Phẩm Sumedhā, thứ nhất.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần tóm lược của phẩm ấy:
Sumedhā mekhalādāyī, maṇḍapaṃ saṅkamaṃ dadā;
Naḷamālī piṇḍadadā, kaṭacchu uppalappadā.
Sumedhā, Mekhalādāyikā, Maṇḍapadāyikā, and Saṅkamadāyikā; Naḷamālinī, Piṇḍapātadāyikā, Kaṭacchudāyikā, and Uppalapadāyikā,
Sumedhā, Mekhalādāyī, Maṇḍapadāyikā, Saṅkamadāyikā, Naḷamālī, Piṇḍadāyikā, Kaṭacchudāyikā, Uppalappadā.
Dīpadā dakadā ceva, gāthāyo gaṇitā iha;
Ekagāthāsatañceva, tiṃsati ca taduttari †.
Dīpadā and Dakadā. The verses here are reckoned as one hundred and thirty, and more besides.
Dīpadāyikā và Dakadāyikā. Các câu kệ được đếm ở đây là một trăm ba mươi và nhiều hơn nữa.