Bản dịch
THI -ap1 — Ký Sự về Sumedhā
Sumedhātherīapadāna
BJT 1Vào thời đức Thế Tôn Koṇāgamana, chúng tôi gồm ba người bạn gái thân thiết đã dâng cúng trú xá ở tại chỗ cư ngụ mới là tu viện của hội chúng.
BJT 2Chúng tôi đã tái sanh mười lần, trăm lần, ngàn lần, mười ngàn lần ở các cõi trời thì ở cõi người có điều gì để nói.
BJT 3Chúng tôi đã có đại thần lực ở cõi trời thì ở cõi người có điều gì để nói. Tôi đã là hoàng hậu, là báu vật nữ nhân trong số bảy loại báu vật.
BJT 4Ở nơi này, do phước thiện đã được tích lũy, Dhanañjānī, Khemā, và tôi nữa, ba người đã là hậu duệ của các gia tộc vô cùng giàu có.
BJT 5Sau khi tạo lập tu viện được xây dựng khéo léo và được trang hoàng về mọi phương diện, chúng tôi đã dâng đến hội chúng có đức Phật đứng đầu và (chúng tôi) đã được hoan hỷ.
BJT 6Do mãnh lực của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, ở các cõi trời và cũng y như thế ở giữa loài người, tôi đều đạt được phẩm vị cao quý.
BJT 7Ngay trong kiếp này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 8Khi ấy, đức vua của xứ Kāsī tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī, vị chúa tể của nhân loại đã là người hộ độ cho bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 9Bảy người con gái của đức vua đã là những nàng công chúa khéo được nuôi dưỡng. Được vui thích trong việc hộ độ đức Phật, các nàng đã thực hành Phạm hạnh (của người thiếu nữ).
BJT 10Là bạn của những cô (công chúa) ấy, tôi đã khéo chuyên chú vào các giới, đã dâng cúng các vật thí một cách cung kính, và đã thực hành phận sự dầu chỉ là người tại gia.
BJT 11Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 12Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại.
BJT 13Là người đã được thành tựu thiện nghiệp, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.
BJT 14Từ nơi ấy chết đi (sanh) vào thân nhân loại, tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các đấng Chuyển Luân Vương và của các vị vua cai quản các lãnh thổ.
BJT 15Tôi đã thọ hưởng sự thành đạt ở giữa chư Thiên và ở giữa loài người, đã được an vui ở tất cả các nơi, và đã luân hồi qua nhiều kiếp sống.
BJT 16Nhân ấy, nguồn sanh khởi ấy, căn nguyên ấy, sự chăm chỉ ấy trong Giáo Pháp, sự liên kết đầu tiên ấy, việc Niết Bàn ấy là do sự thỏa thích trong Giáo Pháp.
BJT 17Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 18Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 19Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Sumedhā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Sumedhā là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
The Text of the Apadāna of the Elder Nuns
Pāli văn về Thí Dụ của các vị Trưởng Lão Ni
1. The Sumedhā Chapter
1. Phẩm Sumedhā
1. Sumedhātherīapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Nun Sumedhā
1. Thí Dụ về Trưởng Lão Ni Sumedhā
Atha therikāpadānāni suṇātha –
Now listen to the Apadānas of the Elder Nuns.
Bây giờ, các ngươi hãy lắng nghe các Thí Dụ về các vị Trưởng Lão Ni –
1.
1.
1.
‘‘Bhagavati koṇāgamane, saṅghārāmamhi navanivesanamhi †;
Sakhiyo tisso janiyo, vihāradānaṃ adāsimha.
“At the time of the Blessed One Koṇāgamana, in a newly established monastery for the Sangha, we, three women who were friends, gave the gift of a dwelling.
Khi đức Thế Tôn Koṇāgamana (Câu-lâu-na-hàm) (hiện hữu), ở tại tu viện mới được xây dựng cho chư Tăng, ba người bạn nữ chúng tôi đã dâng cúng tịnh xá.
2.
2.
2.
‘‘Dasakkhattuṃ satakkhattuṃ, dasasatakkhattuṃ satānañca satakkhattuṃ †;
Devesu upapajjimha, ko vādo mānuse bhave.
“Ten times, a hundred times, a thousand times, and ten thousand times, we were reborn among the devas; what need is there to speak of the human state?
Mười lần, một trăm lần, một ngàn lần, và mười ngàn lần, chúng tôi đã được sanh lên các cõi trời. Còn nói gì đến cảnh giới loài người.
3.
3.
3.
‘‘Deve mahiddhikā ahumha, mānusakamhi ko vādo;
Sattaratanamahesī †, itthiratanaṃ ahaṃ bhaviṃ.
“We were of great power in the deva realm; what is there to say of the human state? I was the woman-treasure, the chief queen of the possessor of the seven treasures.
Ở cõi trời, chúng tôi đã có đại thần lực, còn nói gì đến cảnh giới loài người. Tôi đã là chánh hậu của vị vua có bảy báu vật, là ngọc nữ báu.
4.
4.
4.
‘‘Idha sañcitakusalā †, susamiddhakulappajā;
Dhanañjānī ca khemā ca, ahampi ca tayo janā.
“Having accumulated merit here, we three persons—Dhanañjānī, Khemā, and I—were born into a very prosperous family.
Do các thiện nghiệp đã được tích lũy, ba người chúng tôi là Dhanañjānī, Khemā, và cả tôi nữa, đã được sanh vào dòng dõi vô cùng thịnh vượng ở nơi đây.
5.
5.
5.
‘‘Ārāmaṃ sukataṃ katvā, sabbāvayavamaṇḍitaṃ;
Buddhappamukhasaṅghassa, niyyādetvā samoditā.
“Having made a well-made monastery, adorned with all its features, we, being joyful, dedicated it to the Sangha with the Buddha at its head.
Sau khi đã tạo dựng khu vườn tu viện được làm tốt đẹp, được trang hoàng với tất cả các bộ phận, chúng tôi đã hoan hỷ dâng cúng đến chư Tăng với đức Phật là vị đứng đầu.
6.
6.
6.
‘‘Yattha yatthūpapajjāmi, tassa kammassa vāhasā;
Devesu aggataṃ pattā, manussesu tatheva ca.
“Wherever I was reborn by the force of that kamma, we attained pre-eminence among the devas, and likewise among humans.
Bất cứ nơi nào tôi được sanh đến, do năng lực của nghiệp ấy, tôi đã đạt được địa vị tối thắng ở giữa các chư thiên, và cũng tương tự như thế ở giữa loài người.
7.
7.
7.
‘‘Imasmiṃyeva kappamhi, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
“In this very eon, a kinsman of Brahmā of great renown, Kassapa by clan name, the best of speakers, arose.
Cũng chính trong kiếp này, bậc Tối Thắng giữa các vị thuyết giảng, thuộc dòng dõi Bà-la-môn, có danh tiếng lớn, tên là Kassapa (Ca-diếp) theo dòng họ, đã xuất hiện.
8.
8.
8.
‘‘Upaṭṭhāko mahesissa, tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma, bārāṇasipuruttame.
“At that time, the lord of men, King Kikī of Kāsi by name, was an attendant of the great seer in the excellent city of Bārāṇasī.
Vào lúc ấy, ở tại thành phố Bārāṇasī (Ba-la-nại) cao quý, vị vua của xứ Kāsī (Ca-di) tên là Kikī đã là người hộ độ của bậc Đại Ẩm Sĩ.
9.
9.
9.
‘‘Tassāsuṃ satta dhītaro, rājakaññā sukhedhitā †;
Buddhopaṭṭhānaniratā, brahmacariyaṃ cariṃsu tā.
“He had seven daughters, royal maidens brought up in comfort, who delighted in attending on the Buddha. They lived the holy life.
Vị ấy có bảy người con gái, các nàng công chúa được nuôi dưỡng trong an lạc, luôn hoan hỷ trong việc hầu hạ đức Phật. Các nàng ấy đã thực hành phạm hạnh.
10.
10.
10.
‘‘Tāsaṃ sahāyikā hutvā, sīlesu susamāhitā;
Datvā dānāni sakkaccaṃ, agāreva vataṃ † cariṃ.
“Having been their companion, well-established in the precepts, I respectfully gave offerings and practiced the observance while at home.
Sau khi trở thành bạn đồng hành của các nàng ấy, tôi đã vững vàng trong các giới hạnh, đã thành kính dâng cúng các vật thí, và đã thực hành các hạnh nguyện ngay tại tư gia.
11.
11.
11.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsūpagā ahaṃ.
“By that well-done deed, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa realm.
Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do các tâm tư và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa (Đao-lợi).
12.
12.
12.
‘‘Tato cutā yāmamagaṃ †, tatohaṃ tusitaṃ gatā;
Tato ca nimmānaratiṃ, vasavattipuraṃ tato.
“Passing away from there, I went to the Yāma realm; from there I went to the Tusita realm; from there to the Nimmānarati realm, and from there to the city of Vasavattī.
Sau khi mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã đi đến cõi trời Yāma (Dạ-ma), từ đấy tôi đã đi đến Tusita (Đâu-suất). Và từ đấy, (tôi đã đi đến) Nimmānaratī (Hóa-lạc), rồi từ đấy (đến) thành phố Vasavatti (Tha-hóa-tự-tại).
13.
13.
13.
‘‘Yattha yatthūpapajjāmi, puññakammasamohitā;
Tattha tattheva rājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
“Wherever I was reborn, accompanied by my meritorious deeds, right there I became the chief queen of the great deva kings.
Bất cứ nơi nào tôi được sanh đến, do được kết hợp với nghiệp phước báu, chính ở tại những nơi ấy, tôi đã làm chánh hậu của các vị vua.
14.
14.
14.
‘‘Tato cutā manussatte, rājūnaṃ cakkavattinaṃ;
Maṇḍalīnañca rājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
“Passing away from there to the human state, I became the chief queen of wheel-turning monarchs and of regional kings.
Sau khi mệnh chung từ nơi ấy, trong kiếp người, tôi đã làm chánh hậu của các vị vua Chuyển Luân và của các vị vua chư hầu.
15.
15.
15.
‘‘Sampattimanubhotvāna, devesu mānusesu ca;
Sabbattha sukhitā hutvā, nekajātīsu saṃsariṃ.
“Having experienced prosperity among devas and humans, being happy everywhere, I wandered through many births.
Sau khi đã thụ hưởng sự thành tựu ở các cõi trời và ở cõi người, sau khi đã được an lạc ở khắp mọi nơi, tôi đã luân hồi trong nhiều kiếp sống.
16.
16.
16.
‘‘So hetu ca so pabhavo, tammūlaṃ sāsane khamaṃ †;
Paṭhamaṃ taṃ samodhānaṃ, taṃ dhammaratāya nibbānaṃ †.
“That was the cause, that the origin, that the root of my delight in the Teaching. That was the first convergence; through delight in the Dhamma, that is Nibbāna.
Đó là nhân, đó là nguồn gốc, đó là căn bản cho sự kham nhẫn trong Giáo Pháp. Đó là sự kết hợp đầu tiên, sự chứng ngộ Niết-bàn ấy là do sự hoan hỷ trong Giáo Pháp.
17.
17.
17.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgīva bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavā.
“My defilements are burned up; all states of existence are uprooted. Like a she-elephant having cut her bonds, I dwell free from taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch, tất cả các cảnh giới hiện hữu đã được nhổ lên. Giống như voi cái đã bẻ gãy các dây trói buộc, tôi sống không còn các lậu hoặc.
18.
18.
18.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa † santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Indeed, my coming into the presence of the Buddha was a good coming. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.
Thật vậy, sự đến của tôi đã là sự khéo đến, ở nơi sự hiện diện của đức Phật của tôi. Ba Minh đã được chứng đắc, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
19.
19.
19.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been fulfilled.”
Bốn Tuệ Phân Tích, và tám sự giải thoát này, sáu Thắng Trí đã được chứng ngộ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ sumedhā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the nun Sumedhā spoke these verses.
Như vậy, được biết rằng Tỳ-khưu-ni Sumedhā đã nói lên những câu kệ này.
Sumedhātheriyāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The Apadāna of the Elder Nun Sumedhā, the First.
Trưởng Lão Ni Kệ của Trưởng Lão Ni Sumedhā, (phẩm) thứ nhất.