- Theragāthā 4.4
- Catukkanipāta
- Paṭhamavagga
Nandakattheragāthā
“Dhiratthu pūre duggandhe, mārapakkhe avassute; Navasotāni te kāye, yāni sandanti sabbadā.
Bản dịch
Nandakattheragāthā
BJT 279“Thật ghê tởm những thân xác, có mùi khó chịu, thuộc phe cánh Ma Vương, bị rò rỉ, ở thân thể của nàng có chín dòng chảy luôn luôn tuôn trào.
BJT 280Chớ nghĩ ngợi về các thân xác, chớ công kích các đức Như Lai. Ngay cả cõi trời, các vị cũng không bị luyến ái, vậy thì có điều gì ở loài người?
BJT 281Còn những kẻ nào ngu dốt, kém thông minh, có trí tồi, bị mê muội bao trùm, những kẻ như thế ấy bị luyến ái ở nơi ấy, ở sự trói buộc đã được Ma Vương bày ra.
BJT 282Những người nào có tham ái, sân hận, và vô minh đã được xa lìa, những người như thế ấy không bị luyến ái ở nơi ấy, có các sợi dây đã được cắt đứt, không còn sự trói buộc.”
Đại đức trưởng lão Nandaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Nandaka.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Dhiratthu pūre duggandhe, mārapakkhe avassute; Navasotāni te kāye, yāni sandanti sabbadā.
Curse you mortal frame, you stink! You’re on Māra’s side, you fester! O body, you have nine streams that are flowing all the time.
“Đáng khinh thay! (Thân này) đầy dẫy, hôi thối, thuộc về phe của Ma vương, luôn rỉ chảy. Chín dòng chảy trong thân ngươi luôn tuôn ra mọi lúc.”
Mā purāṇaṁ amaññittho, māsādesi tathāgate; Saggepi te na rajjanti, kimaṅgaṁ pana mānuse.
Don’t think much of mortal frames; don’t disparage the Realized Ones. They’re not even aroused by heaven, let alone by humans.
“Đừng nghĩ về quá khứ, đừng xúc phạm đến các bậc Như Lai (đệ tử). Các vị ấy không tham đắm ngay cả ở cõi trời, huống chi là ở cõi người.”
Ye ca kho bālā dummedhā, dummantī mohapārutā; Tādisā tattha rajjanti, mārakhittamhi bandhane.
But those who are fools and simpletons, with bad advisors, wrapped in delusion, that kind of person is aroused by bodies, when Māra has laid down the snare.
“Những kẻ ngu si, thiếu trí tuệ, có ý định xấu, bị vô minh bao phủ; những kẻ như vậy bị tham đắm ở đó, trong sự trói buộc do Ma vương giăng ra.”
Yesaṁ rāgo ca doso ca, avijjā ca virājitā; Tādī tattha na rajjanti, chinnasuttā abandhanā”ti.
Those in whom greed, hate, and ignorance have faded away; such people are not aroused by bodies, they’ve cut the strings, unbound.
“Những vị nào mà tham, sân, và vô minh đã được loại trừ; những vị như vậy không bị tham đắm ở đó, họ đã cắt đứt sợi dây, không còn bị trói buộc.”
… Nandako thero ….
... Trưởng lão Nandaka...