- Theragāthā 12.2
- Dvādasakanipāta
- Paṭhamavagga
Sunītattheragāthā
“Nīce kulamhi jātohaṁ, daliddo appabhojano; Hīnakammaṁ mamaṁ āsi, ahosiṁ pupphachaḍḍako.
Bản dịch
Sunītattheragāthā
BJT 620“Bị sanh ra ở gia đình thấp kém, tôi là nghèo khó, có ít thức ăn, nghề nghiệp của tôi đã là hạ tiện, tôi đã là người đổ rác hoa.
BJT 621Đối với mọi người, tôi bị nhờm gớm, bị xem thường, và bị khinh miệt. Sau khi làm cho tâm hạ thấp xuống, tôi đã lễ bái nhiều người.
BJT 622Rồi tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc Đại Hùng, dẫn đầu hội chúng tỳ khưu, đang đi vào thành phố tối thượng Magadha.
BJT 623Sau khi đặt đòn gánh xuống, tôi đã đến gần để lễ bái. Vì lòng thương tưởng đến chính tôi, bậc Tối Thượng Nhân đã đứng lại.
BJT 624Khi ấy, sau khi đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư, tôi đã đứng một bên. Tôi đã cầu xin bậc Tối Thượng của tất cả chúng sanh về việc xuất gia.
BJT 625Sau đó, đấng Bi Mẫn, bậc Đạo Sư, đấng Thương Tưởng tất cả thế gian, đã nói với tôi rằng: ‘Này tỳ khưu, hãy đến;’ việc ấy đã là sự tu lên bậc trên của tôi.
BJT 626Tôi đây, một mình, trong khi sống ở trong rừng, không biếng nhác, đã thực hành lời dạy của bậc Đạo Sư, giống như đấng Chiến Thắng đã giáo huấn tôi.
BJT 627Vào canh thứ nhất của đêm, tôi đã nhớ lại đời sống trước đây. Vào canh giữa của đêm, tôi đã làm trong sạch Thiên nhãn. Vào canh cuối của đêm, tôi đã phá tan khối đống tăm tối (vô minh).
BJT 628Sau đó, vào lúc cuối đêm cho đến lúc mọc lên của mặt trời, vị Trời Inda và đấng Brahmā, sau khi đi đến, đã cúi chào tôi, với tay chắp lại.
BJT 629‘Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài. Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài. Các lậu hoặc của ngài đây đã cạn kiệt. Bạch ngài, ngài là bậc xứng đáng được cúng dường.’
BJT 630Kế đó, bậc Đạo Sư, sau khi nhìn thấy tôi được tập thể chư Thiên tôn vinh, đã để lộ nụ cười, rồi đã nói ý nghĩa này:
BJT 631‘Do khổ hạnh, do thực hành Phạm hạnh, do kiềm chế bản thân, và do rèn luyện, do điều này mà trở thành Bà-la-môn; tư cách Bà-la-môn này là tối thượng.’”
Đại đức trưởng lão Sunīta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Sunīta.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Hai vị trưởng lão Sīlava và Sunīta ấy có đại thần lực, ở nhóm mười hai có hai mươi bốn câu kệ.”
Nhóm Mười Hai được chấm dứt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Nīce kulamhi jātohaṁ, daliddo appabhojano; Hīnakammaṁ mamaṁ āsi, ahosiṁ pupphachaḍḍako.
I was born in a low-class family. We were poor, with little to eat. My job was lowly—I threw out the old flowers.
Ta sanh ra trong gia đình hạ tiện, nghèo khó và ít thức ăn; công việc của ta thật thấp hèn, ta là người hốt rác hoa.
Jigucchito manussānaṁ, paribhūto ca vambhito; Nīcaṁ manaṁ karitvāna, vandissaṁ bahukaṁ janaṁ.
Shunned by people, I was disregarded and held in contempt. I humbled my heart and paid respects to many people.
“Bị loài người ghê tởm, bị khinh miệt và chê bai; tôi đã hạ tâm mình xuống thấp, đảnh lễ rất nhiều người.”
Athaddasāsiṁ sambuddhaṁ, bhikkhusaṅghapurakkhataṁ; Pavisantaṁ mahāvīraṁ, magadhānaṁ puruttamaṁ.
Then I saw the Buddha at the fore of the mendicant Saṅgha. The great hero was entering the capital city of the Magadhans.
“Rồi tôi đã thấy bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Đại Anh Hùng, được Tăng chúng vây quanh, đang đi vào thành phố tốt đẹp nhất của xứ Ma-kiệt-đà.”
Nikkhipitvāna byābhaṅgiṁ, vandituṁ upasaṅkamiṁ; Mameva anukampāya, aṭṭhāsi purisuttamo.
I dropped my flail and approached to pay homage. Out of sympathy for me, the supreme man stood still.
“Đặt gánh xuống, tôi đã đến gần để đảnh lễ. Bậc Tối Thượng Nhân đã dừng lại, chính vì lòng bi mẫn đối với tôi.”
Vanditvā satthuno pāde, ekamantaṁ ṭhito tadā; Pabbajjaṁ ahamāyāciṁ, sabbasattānamuttamaṁ.
When I had paid homage at the Teacher’s feet, I stood to one side and requested the going forth from the one supreme among all beings.
“Đảnh lễ dưới chân Bậc Đạo Sư, lúc ấy tôi đứng một bên; tôi đã xin xuất gia với Ngài, bậc tối thượng của tất cả chúng sanh.”
Tato kāruṇiko satthā, sabbalokānukampako; ‘Ehi bhikkhū’ti maṁ āha, sā me āsūpasampadā.
Consequently, the Teacher, being compassionate, having sympathy for the whole world, said to me, “Come, monk!” That was my ordination.
“Khi ấy, Bậc Đạo Sư từ bi, người có lòng thương xót tất cả thế gian, đã nói với tôi: ‘Hãy đến, tỳ khưu’. Đó chính là lễ thọ cụ túc của tôi.”
Sohaṁ eko araññasmiṁ, viharanto atandito; Akāsiṁ satthu vacanaṁ, yathā maṁ ovadī jino.
Staying alone in the wilderness, meditating tirelessly, I have completed what the Teacher taught, just as the victor advised me.
“Và tôi, một mình trong rừng, sống không mệt mỏi; tôi đã thực hành lời dạy của Bậc Đạo Sư, đúng như Bậc Chiến Thắng đã chỉ dạy cho tôi.”
Rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ, Pubbajātimanussariṁ; Rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ, Dibbacakkhuṁ visodhayiṁ; Rattiyā pacchime yāme, Tamokhandhaṁ padālayiṁ.
In the first watch of the night, I recollected my past lives. In the middle watch, I purified my clairvoyance. In the last watch, I shattered the mass of darkness.
“Trong canh đầu của đêm, tôi đã nhớ lại các kiếp sống trước. Trong canh giữa của đêm, tôi đã thanh lọc thiên nhãn. Trong canh cuối của đêm, tôi đã phá tan khối u minh.”
Tato ratyā vivasāne, sūriyassuggamanaṁ pati; Indo brahmā ca āgantvā, maṁ namassiṁsu pañjalī.
At the end of the night, as the sunrise drew near, Indra and the Divinity came and revered me with joined hands.
“Rồi khi đêm tàn, lúc mặt trời sắp mọc, Đế Thích và Phạm Thiên đã đến, chắp tay đảnh lễ tôi.”
‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Yassa te āsavā khīṇā, dakkhiṇeyyosi mārisa’.
“Homage to you, O thoroughbred! Homage to you, supreme among men! Since your defilements are ended, you, good fellow, are worthy of a religious donation.”
“‘Kính lễ ngài, bậc Nhân Hùng! Kính lễ ngài, bậc Tối Thượng Nhân! Ngài là người có các lậu hoặc đã tận diệt, thưa hiền giả, ngài xứng đáng được cúng dường’.”
Tato disvāna maṁ satthā, devasaṅghapurakkhataṁ; Sitaṁ pātukaritvāna, imamatthaṁ abhāsatha.
Consequently, having seen me honored by the assembly of gods, the Teacher smiled and said the following:
“Khi ấy, Bậc Đạo Sư thấy tôi được chúng chư thiên vây quanh, Ngài đã mỉm cười và nói lên ý nghĩa này.”
‘Tapena brahmacariyena, saṁyamena damena ca; Etena brāhmaṇo hoti, etaṁ brāhmaṇamuttaman’”ti.
… Sunīto thero …
“By fervor and spiritual practice, by restraint and by self-control: that’s how to become a brahmin, this is the supreme brahmin.”
“‘Nhờ khổ hạnh và phạm hạnh, nhờ sự chế ngự và tự điều phục; nhờ những điều này, một người trở thành Bà-la-môn. Đó là phẩm hạnh Bà-la-môn tối thượng’.”
Dvādasakanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Phẩm Mười Hai Kệ được chấm dứt.
Sīlavā ca sunīto ca, therā dve te mahiddhikā; Dvādasamhi nipātamhi, gāthāyo catuvīsatīti.
Sīlava và Sunīta, hai vị trưởng lão có đại thần lực. Trong Phẩm Mười Hai Kệ, có hai mươi bốn bài kệ.