Bản dịch
THA -ap425 — Ký Sự về Trưởng Lão Ekāsanadāyaka
Ekāsanadāyakattheraapadāna
BJT 4497Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Gosita, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập.
BJT 4498Khi ấy, (tôi) có tên là Nārada. (Người ta) biết đến tôi với tên là Kassapa. Trong lúc tầm cầu đạo lộ thanh tịnh, tôi sống ở (núi) Gosita.
BJT 4499Bậc Toàn Giác, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp, vị ưa thích sự độc cư, đã đi đến bằng đường không trung.
BJT 4500Sau khi nhìn thấy hào quang của bậc Đại Ẩn Sĩ đang di chuyển ở trên chóp đỉnh của khu rừng, tôi đã xếp đặt chiếc giường gỗ và đã trải ra tấm da dê.
BJT 4501Sau khi xếp đặt chỗ ngồi tôi đã chắp tay lên ở đầu. Sau khi bày tỏ sự vui mừng, tôi đã nói lời nói này:
BJT 4502“Bạch đấng Đại Hùng, Ngài là vị phẫu thuật, là người thầy thuốc của các bệnh nhân. Bạch đấng Lãnh Đạo, xin Ngài hãy ban cho con liều thuốc của người bị cơn bệnh hành hạ.
BJT 4503Bạch đức Phật tối thượng, bạch đấng Hiền Trí, những người nào có mục đích về sức khỏe nhìn thấy Ngài đạt được sự thành tựu về mục đích trường cửu, sự tái sanh của những người này được lụi tàn.
BJT 4504Con là người thọ dụng trái cây đã rụng xuống, con không có vật dâng cúng đến Ngài. Con có chỗ ngồi này, thỉnh Ngài ngồi xuống ở chiếc giường gỗ.”
BJT 4505Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở tại nơi ấy tợ như con sư tử không bị hãi sợ. Sau khi chờ đợi trong chốc lát, Ngài đã nói lời nói này:
BJT 4506“Ngươi hãy tự tin, chớ lo sợ. Ngươi đã đạt được viên ngọc như ý. Điều gì đã được ngươi ước nguyện, tất cả sẽ được tròn đủ trong thời vị lai.
BJT 4507Điều đã được làm ấy của ngươi ở Phước Điền vô thượng không là vô ích. Đối với người nào có tâm đã được củng cố, bản thân của (người ấy) có thể tiếp độ được.
BJT 4508Do sự dâng cúng chỗ ngồi này và do các nguyện lực của tác ý, ngươi (sẽ) không đi đến đọa xứ trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 4509Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc năm mươi lần và sẽ là đấng Chuyển Luân Vương tám mươi lần.
BJT 4510Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Ngươi sẽ được sung sướng ở khắp mọi nơi và sẽ luân chuyển ở vòng luân hồi.”
BJT 4511Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Padumuttara, bậc trí tuệ đã bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
BJT 4512Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, xe kéo, và cỗ xe, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của một chổ ngồi.
BJT 4513Ngay cả khi đã đi vào rừng rậm, lúc nào tôi mong muốn về chỗ ngồi, chiếc ghế bành biết được ước muốn của tôi hiện diện ở bên cạnh.
BJT 4514Trong khi đã đi vào trong nước, lúc nào tôi mong muốn về chỗ ngồi, chiếc ghế bành biết được ước muốn của tôi hiện diện ở bên cạnh.
BJT 4515Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, luôn luôn có một trăm ngàn chiếc ghế bành vây quanh tôi.
BJT 4516Tôi (đã) luân hồi ở hai cảnh giới, trong bản thể Thiên nhân và loài người. Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn.
BJT 4517Sau khi dâng cúng một chỗ ngồi ở Phước Điền vô thượng, sau khi nắm lấy chiếc ghế bành Giáo Pháp, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4518Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.
BJT 4519Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4520Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4521Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekāsanadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ekāsanadāyaka là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Ekāsanadāyakattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder who gave a single seat
3. Thánh ký của Trưởng lão Ekāsanadāyaka
36.
36.
36.
‘‘Himavantassāvidūre, gosito nāma pabbato;
Assamo sukato mayhaṃ, paṇṇasālā sumāpitā.
Not far from the Himālaya, there is a mountain named Gosita. There my hermitage was well-made, my leaf-hut well-fashioned.
Không xa dãy Hy-mã-lạp, có ngọn núi tên là Gosita. Am thất của tôi được khéo làm, tịnh xá lợp bằng lá được khéo tạo dựng.
37.
37.
37.
‘‘Nārado nāma nāmena, kassapo iti maṃ vidū;
Suddhimaggaṃ gavesanto, vasāmi gosite tadā.
By name I was Nārada, and they knew me as Kassapa. Seeking the path of purity, I dwelt then on Mount Gosita.
Tên của tôi là Nārada, người ta biết tôi là Kassapa. Khi ấy, trong khi tìm kiếm con đường thanh tịnh, tôi sống ở (núi) Gosita.
38.
38.
38.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Vivekakāmo sambuddho, agañchi anilañjasā.
The Victor named Padumuttara, who had gone to the far shore of all dhammas, the Perfectly Enlightened One, desiring seclusion, came through the sky.
Bậc Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc đã đến bờ bên kia của tất cả các pháp, bậc Chánh Đẳng Giác ưa thích sự độc cư, đã đi bằng đường hư không.
39.
39.
39.
‘‘Vanagge gacchamānassa, disvā raṃsiṃ mahesino;
Kaṭṭhamañcaṃ paññāpetvā, ajinañca apatthariṃ.
Seeing the radiance of the Great Seer as he traveled over the forest, I prepared a wooden couch and spread out a black deerskin.
Sau khi nhìn thấy ánh hào quang của bậc Đại Sĩ đang đi trên ngọn cây trong rừng, tôi đã chuẩn bị chiếc giường gỗ và cũng đã trải tấm da thú.
40.
40.
40.
‘‘Āsanaṃ paññāpetvāna, sire katvāna añjaliṃ;
Somanassaṃ paveditvā, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having prepared the seat and placed my joined hands on my head, declaring my joy, I spoke this word:
Sau khi đã chuẩn bị chỗ ngồi, sau khi đã chắp tay lên đầu, sau khi đã bày tỏ sự hoan hỷ, tôi đã nói lên lời này:
41.
41.
41.
‘‘‘Sallakatto mahāvīra, āturānaṃ tikicchako;
Mamaṃ rogaparetassa †, tikicchaṃ dehi nāyaka.
‘O Great Hero, remover of darts, healer of the afflicted! For me, who am oppressed by disease, grant the cure, O Leader.
‘Hỡi bậc Đại Dũng, ngài là người nhổ mũi tên, là thầy thuốc cho những người bệnh. Hỡi bậc Lãnh Đạo, xin hãy ban cho sự chữa trị đối với tôi, người bị bệnh tật hành hạ.
42.
42.
42.
‘‘‘Kallatthikā ye passanti, buddhaseṭṭha tuvaṃ mune;
Dhuvatthasiddhiṃ papponti, etesaṃ ajaro † bhave.
‘O Sage, Best of Buddhas, those who desire well-being and see you, certainly attain the accomplishment of their goal; for them, there is the ageless state.
‘Hỡi bậc Thánh, bậc Phật Tối Thượng, những ai mong cầu sự không bệnh mà nhìn thấy ngài, họ đạt được sự thành tựu vững chắc về mục đích, đối với họ, kiếp sống là không già.
43.
43.
43.
‘‘‘Na me deyyadhammo atthi, pavattaphalabhojihaṃ;
Idaṃ me āsanaṃ atthi †, nisīda kaṭṭhamañcake’.
‘I have no gift to give; I am one who eats fallen fruit. This seat is what I have; please sit on this wooden couch.’
‘Con không có vật gì để cúng dường, con là người ăn trái cây rụng. Con có chỗ ngồi này, xin ngài hãy ngồi trên chiếc giường gỗ’.
44.
44.
44.
‘‘Nisīdi tattha bhagavā, asambhītova † kesarī;
Muhuttaṃ vītināmetvā, idaṃ vacanamabravi.
The Blessed One sat there, fearless as a lion. After letting a moment pass, he spoke this word:
Đức Thế Tôn đã ngồi ở nơi ấy, giống như con sư tử không sợ hãi. Sau khi trải qua một khoảnh khắc, ngài đã nói lên lời này:
45.
45.
45.
‘‘‘Visaṭṭho † hohi mā bhāyi, laddho jotiraso tayā;
Yaṃ tuyhaṃ patthitaṃ sabbaṃ, paripūrissatināgate †.
‘Be at ease, do not fear; the jotirasa gem has been obtained by you. Whatever you have wished for, all that will be completely fulfilled in the future.’
‘Hãy can đảm, đừng sợ hãi, ngọc jotirasa đã được ngươi đắc được. Tất cả những gì được ngươi mong mỏi sẽ được viên mãn trong tương lai.
46.
46.
46.
‘‘‘Na moghaṃ taṃ kataṃ tuyhaṃ, puññakkhette anuttare;
Sakkā uddharituṃ attā, yassa cittaṃ paṇīhitaṃ †.
‘Your deed was not done in vain in the incomparable field of merit. One whose mind is well-directed is able to uplift oneself.’
‘Việc ấy được ngươi thực hiện không phải là vô ích, ở trong ruộng phước vô thượng. Người nào có tâm được hướng đến đúng đắn, người ấy có thể tự mình giải thoát.
47.
47.
47.
‘‘‘Imināsanadānena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Kappasatasahassāni, vinipātaṃ na gacchasi.
‘By this gift of a seat, and by these volitions and aspirations, for a hundred thousand aeons, you will not go to a woeful state.’
‘Do việc cúng dường chỗ ngồi này, và do các tâm tư cùng nguyện vọng, trong một trăm ngàn kiếp, ngươi sẽ không đi đến đọa xứ.
48.
48.
48.
‘‘‘Paññāsakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissasi;
Asītikkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissasi.
‘Fifty times you will rule as the lord of the devas; eighty times you will be a wheel-turning king.’
‘Năm mươi lần, ngươi sẽ làm vua của chư Thiên, trị vì vương quốc của chư Thiên. Và tám mươi lần, ngươi sẽ là vị vua Chuyển Luân Vương.
49.
49.
49.
‘‘‘Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ;
Sabbattha sukhito hutvā, saṃsāre saṃsarissasi’.
‘Vast will be your regional kingship, incalculable by number; being happy in all existences, you will wander in saṃsāra.’
‘(Ngươi sẽ được) làm vị vua chư hầu rộng lớn, không thể đếm được bằng sự tính toán; sau khi được an lạc ở khắp mọi nơi, ngươi sẽ luân chuyển ở trong vòng luân hồi’.
50.
50.
50.
‘‘Idaṃ vatvāna sambuddho, jalajuttamanāmako;
Nabhaṃ abbhuggamī vīro, haṃsarājāva ambare.
Having said this, the Sambuddha named Padumuttara, the hero, rose into the sky, like a swan-king in the heavens.
Vị Chánh Đẳng Giác, có danh hiệu là Padumuttara, sau khi nói lên lời này, bậc Dũng Mãnh đã bay lên hư không, giống như con thiên nga chúa ở trên bầu trời.
51.
51.
51.
‘‘Hatthiyānaṃ assayānaṃ, sarathaṃ sandamānikaṃ;
Labhāmi sabbamevetaṃ, ekāsanassidaṃ phalaṃ.
Elephant-vehicles, horse-vehicles, chariots, and palanquins; all this I receive. This is the fruit of the gift of a single seat.
Xe voi, xe ngựa, xe song mã cùng với kiệu; tôi đã được nhận tất cả những thứ ấy. Đây là quả báo của việc cúng dường một chỗ ngồi.
52.
52.
52.
‘‘Kānanaṃ pavisitvāpi, yadā icchāmi āsanaṃ;
Mama saṅkappamaññāya, pallaṅko upatiṭṭhati.
Even having entered the forest, when I desire a seat, knowing my intention, a couch appears.
Ngay cả sau khi đi vào trong rừng, khi tôi mong muốn có chỗ ngồi, sau khi biết được ý định của tôi, chiếc ngai vàng liền hiện ra.
53.
53.
53.
‘‘Vārimajjhagato santo, yadā icchāmi āsanaṃ;
Mama saṅkappamaññāya, pallaṅko upatiṭṭhati.
Being in the middle of the water, when I desire a seat, knowing my intention, a couch appears.
Trong khi đang ở giữa dòng nước, khi tôi mong muốn có chỗ ngồi, sau khi biết được ý định của tôi, chiếc ngai vàng liền hiện ra.
54.
54.
54.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Pallaṅkasatasahassāni, parivārenti maṃ sadā.
Whatever existence I am reborn into, be it divine or human, a hundred thousand couches always surround me.
Bất cứ cảnh giới nào tôi tái sanh vào, hoặc là chư Thiên hoặc là loài người, một trăm ngàn chiếc ngai vàng luôn luôn vây quanh tôi.
55.
55.
55.
‘‘Duve bhave saṃsarāmi, devatte atha mānuse;
Duve kule pajāyāmi, khattiye atha brāhmaṇe.
I wander in two existences, the divine and the human. I am born into two families, the noble and the brahmin.
Tôi luân chuyển trong hai cảnh giới, hoặc là chư Thiên hoặc là loài người. Tôi sanh ra trong hai dòng dõi, hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn.
56.
56.
56.
‘‘Ekāsanaṃ daditvāna, puññakkhette anuttare;
Dhammapallaṅkamādāya †, viharāmi anāsavo.
Having given a single seat in the incomparable field of merit, having taken up the couch of Dhamma, I dwell without cankers.
Sau khi đã dâng cúng một chỗ ngồi ở phước điền vô thượng, tôi đã thọ nhận ngai vàng của Giáo Pháp và trú ngụ không còn lậu hoặc.
57.
57.
57.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, ekāsanassidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, when I gave that gift, I have not known a woeful state since then. This is the fruit of the gift of a single seat.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, khi ấy tôi đã thực hiện việc bố thí. Tôi không hề biết đến khổ cảnh, đây là quả báo của việc cúng dường một chỗ ngồi.
58.
58.
58.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavo.
My defilements are burned... (etc.)... I dwell without cankers.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy… (vân vân)… tôi trú ngụ không còn lậu hoặc.
59.
59.
59.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good one... (etc.)... the Buddha’s teaching has been done.
Quả thật, sự hiện diện của tôi là khéo đến… (vân vân)… lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
60.
60.
60.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... (etc.)... the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ekāsanadāyako thero imā gāthāyo
Thus indeed, the venerable elder Ekāsanadāyaka spoke these verses.
Quả thật, trưởng lão Ekāsanadāyaka khả kính
Abhāsitthāti.
He spoke thus.
Đã nói như vậy.
Ekāsanadāyakattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Third Apadāna of the Elder Ekāsanadāyaka is finished.
Phẩm truyện về trưởng lão Ekāsanadāyaka, là phẩm thứ ba.