Bản dịch
THA -ap363 — Ký Sự về Trưởng Lão Mandāravapupphiya
1 Mandāravapupphiyattheraapadāna
BJT 3180Sau khi từ cõi trời Đạo Lợi đi đến nơi đây, người thanh niên tên Maṅgala đã cầm lấy bông hoa mandārava dành cho bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī.
BJT 3181Tôi đã đặt ở trên đỉnh đầu của (đức Phật) đang ngồi nhập định. Sau khi đã duy trì bảy ngày, tôi đã trở về lại thế giới chư Thiên.
BJT 3182(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3183Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mandāravapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Mandāravapupphiyattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Mandāravapupphiya
1. Thiên sự của trưởng lão Mandāravapupphiya
1.
1.
1.
‘‘Tāvatiṃsā idhāgantvā, maṅgalo nāma māṇavo;
Mandāravaṃ gahetvāna, vipassissa mahesino.
“Having come here from Tāvatiṃsa, I, a young man named Maṅgala, took a Mandārava flower for the great seer Vipassī,
“Từ cõi trời Ba Mươi Ba, tôi đã đi đến đây, là thanh niên tên Maṅgala. Sau khi lấy đóa hoa Mandārava, (tôi đã dâng lên) đấng Đại Ẩn Sĩ Vipassī.”
2.
2.
2.
‘‘Samādhinā nisinnassa, matthake dhārayiṃ ahaṃ;
Sattāhaṃ dhārayitvāna, devalokaṃ punāgamiṃ.
I held [it] over his head while he was sitting in concentration. Having held it for seven days, I returned to the deva world.
“Tôi đã che lọng trên đầu của Ngài khi Ngài đang ngồi thiền định; sau khi che lọng suốt bảy ngày, tôi đã trở lại cõi trời.”
3.
3.
3.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
“Ninety-one aeons ago from now, for the flower with which I made an offering, I have known no woeful state. This is the fruit of offering to the Buddha.”
“Cách đây chín mươi mốt kiếp, tôi đã cúng dường đóa hoa ấy. Tôi không còn biết đến khổ cảnh; đây là quả báu của việc cúng dường đến đức Phật.”
4.
4.
4.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.”
“Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được tôi chứng ngộ. Lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā mandāravapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Mandāravapupphiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Mandāravapupphiya đã nói những câu kệ này.
Mandāravapupphiyattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The first Apadāna, that of the Elder Mandāravapupphiya, is concluded.
Thiên sự của trưởng lão Mandāravapupphiya là thiên sự thứ nhất.